Lịch âm dương

Xem tin theo ngày

< Tháng 2 2019 >
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28      

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay2936
mod_vvisit_counterHôm qua4888
mod_vvisit_counterTuần này31791
mod_vvisit_counterTuần trước34648
mod_vvisit_counterTháng này88014
mod_vvisit_counterTháng trước103527
mod_vvisit_counterTất cả5277056

Có: 12 khách trực tuyến

Tin tức - Sự kiện

Phát hiện thêm hệ thống hang ngầm sâu trên 90m tại Sơn Đoòng

Email In PDF.
Dân Việt) Các chuyên gia Hiệp hội hang động Hoàng gia Anh đã công bố qua kết quả khảo sát năm 2018, bất ngờ phát hiện hệ thống hang ngầm ở độ sâu trên 90m dưới lòng hang Sơn Đoòng.       
Chiều 9.4 tại Hà Nội, UBND tỉnh Quảng Bình kết hợp với Bộ Ngoại giao tổ chức họp báo về thám hiểm sông ngầm trong hang động lớn nhất thế giới Sơn Đoòng.

Tại buổi họp báo, các chuyên gia Hiệp hội hang động Hoàng gia Anh đã công bố kết quả khảo sát năm 2018 về hệ thống hang ngầm tại Sơn Đoòng.
Top 5 chuyên gia lặn hang động giỏi nhất thế giới được mời tới Quảng Bình: Trưởng nhóm lặn Martin Holroyd - Chuyên gia BCRA cùng 3 thành viên đã đóng góp lớn cho việc giải cứu thành công đội bóng nhí Lợn Hoang tại hang Tham Luông, Chiang Rai, Thái Lan năm 2018: Ông Rick Stanton, ông Jason Mallinson và ông Chris Jewell cùng điều phối viên thiết bị lặn là bà Laura Jewell.
Các chuyên gia đo độ sâu của dòng sông ngầm bằng dây, cho thấy đáy của dòng sông ngầm bên trong Sơn Đoòng nằm ở độ sâu 93m, ở độ sâu này thì không thể dùng bình lặn nén khí thông thường nên nhóm chuyên gia chỉ có thể đo được ở mức 63m, sau đó chuyên gia Jason Mallinson đã lặn sâu đạt ở mức 77m. Tuy nhiên, theo ông Jason Mallinson, ở độ sâu này, việc tìm kiếm lối thông qua hang Thung vẫn chưa thấy, đồng thời độ sâu của hang vẫn tiếp tục sâu hơn.

"Chúng tôi ước lượng độ sâu của hang sẽ là 100m đến 120m. Lòng hang có độ rộng 600m, để tiếp tục cuộc thám hiểm này, chúng tôi sẽ phải chuẩn bị cho lần tới bằng phương án dùng bình khí heli (Helium) để có thể lặn sâu 120m đến 200m.
Với độ sâu mà tôi lặn được là 77m, chúng tôi đã lặn trong vài tiếng và khoảng 80 phút thì phải xử lý giảm áp. Việc giảm áp mất khá nhiều thời gian”, ông Jason Mallinson nói.
Phát hiện mới nhất trong chuyến khảo sát lần này là một hệ thống hang ngầm (tunnel) nằm ở độ sâu 60m, càng sâu hệ thống hang ngầm càng mở rộng ra. Độ sâu này đã sâu hơn mực nước biển tại vị trí lặn.
Ngoài dòng sông ngầm bên trong hang Sơn Đoòng, các chuyên gia lặn hang động còn lặn khảo sát tại khu vực suối Nước Moọc bên trong VQG Phong Nha - Kẻ Bàng. Tại độ sâu 74m, các chuyên gia buộc phải dừng lại vì cần thiết bị phù hợp hơn.

Như vậy, theo nhận định của các chuyên gian lặn hang động lần này thì hệ thống hang động đá vôi tại Phong Nha - Kẻ Bàng được chia thành 3 tầng: hang khô, hang nước có dòng chảy và hệ thống hang ngầm nằm ở độ sâu trên 93m.
Kết quả khảo sát lần này đã mở ra một trang khám phá mới về hệ thống hang ngầm nằm ở độ sâu trên 90m, đồng thời mở cánh cửa cho các nhà thám hiểm khảo sát thêm hệ thống hang động nằm sâu bên dưới lòng đất.
Chia sẻ tại buổi họp báo, ông Trần Tiến Dũng - Phó chủ tịch UBND Quảng Bình cho biết: “Gần 30 năm thám hiểm các hang động ở Quảng Bình, các chuyên gia của Hiệp hội hang động Hoàng gia Anh (BCRA) đã thử lặn ở một số hang nước, tuy nhiên tần suất chưa nhiều.
Việc mời các chuyên gia lặn hang động giỏi nhất thế giới đến để lặn xuống sông ngầm bên dưới hang Sơn Đoòng mở ra các cơ hội lớn để khám phá những bí mật và những điều mới lạ bên dưới các hang ngầm.

Hiện nay Quảng Bình đang phát triển du lịch mạo hiểm, đặc biệt Quảng Bình được mệnh danh là vương quốc của những hang động ngầm lớn nhất thế giới, nên tỉnh  cũng cố gắng phát triển du lịch hang động. Rất nhiều hang động Quảng Bình đã đưa vào khai thác như động Phong Nha, động Tiên Sơn, hang Va… Ngoài ra chúng tôi cũng tổ chức tour du lịch sinh thái, mạo hiểm trong rừng. Và thời gian tới chúng tôi sẽ cố gắng tổ chức thám hiểm lặn ở sông ngầm như các chuyên gia lặn vừa mới phát hiện ra ngày 9.4”.
Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 10 Tháng 4 2019 14:30 )
 

Đồng Sỹ Nguyên - Vị danh tướng tài ba

Email In PDF.
Trong dòng chảy lịch sử của dân tộc Việt Nam, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên được nhắc đến là một vị tướng tài ba, một nhà lãnh đạo có đức độ và tài năng, người học trò ưu tú của Bác Hồ vĩ đại. Đặc biệt, sự nghiệp và cuộc đời Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên gắn liền với những chiến công hiển hách trên chiến trường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh - con đường huyền thoại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên (1923-2019)
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên tên thật là Nguyễn Hữu Vũ, sinh ngày 1 tháng 3 năm 1923 (Quý Hợi) ở thôn Trung Thôn, xã Quảng Trung, huyện Quảng Trạch (nay thuộc thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình).
Xuất thân trong gia đình có truyền thống cách mạng (Theo Di tích Từ đường, cha ông là ông Nguyễn Hữu Khoán và mẹ là bà Đặng Thị Cấp, đều là những hậu duệ của thủ lĩnh phong trào Cần Vương), Nguyễn Hữu Vũ sớm có tinh thần chống thực dân Pháp xâm lược.
Năm 1936, Nguyễn Hữu Vũ bắt đầu tham gia hoạt động cách mạng dưới sự hướng dẫn của ông Nguyễn Văn Huyên (bí danh là Tế - một cán bộ của Đảng Cộng sản Đông Dương). Năm 1937, Nguyễn Hữu Vũ lấy tên là Nguyễn Văn Đồng.
Năm 1939, ông vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1947, ông đổi tên thành Đồng Sỹ Nguyên để dễ hoạt động trong vùng địch hậu và tránh liên lụy tới gia đình. Cái tên này đã gắn bó với ông trong cuộc đời còn lại.
Như cây non trải qua bao phong ba bão táp, sóng gió cuộc đời, từ cậu bé sinh ra ở một miền quê lam lũ, bần hàn như bao miền quê Việt dưới thời đế quốc, thực dân, Đồng Sỹ Nguyên đã vượt lên mọi khó khăn, thử thách, từng bước trưởng thành.
Vì thấy bất công, tàn bạo dưới chế độ cũ, ông đã quyết chí đi tìm chân lý, rèn luyện, trưởng thành, làm Bí thư chi bộ làng rồi đảm đương nhiều vị trí, trọng trách mà Đảng, Nhà nước, nhân dân, quân đội giao phó. Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã dành trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của Dân tộc và Quân đội.
Dấu son chói lọi trong hơn 70 năm hoạt động cách mạng của Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên là những năm tháng ông được trao trọng trách: Tư lệnh của Binh đoàn Trường Sơn. Với nhiệm vụ tổ chức xây dựng và khai thác con đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh huyền thoại, chi viện sức người và khí tài hậu cần cho chiến trường miền Nam, phục vụ công cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Thời gian Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh Trường Sơn (1967-1975) cũng là giai đoạn cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước diễn ra ác liệt nhất. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, Bác Hồ, cùng với những sáng kiến táo bạo, kịp thời, hợp với thực tiễn chiến đấu của Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên, tuyến giao thông chiến lược Trường Sơn không còn là những con đường đơn lẻ mà phát triển thành một hệ thống giao thông vận tải lớn, với hàng chục, hàng trăm ngả như "trận đồ bát quái xuyên rừng rậm".
Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên đã cùng Bộ Tư lệnh chỉ đạo tạo mạng lưới đường - cầu nhiều trục dọc Bắc - Nam; Đông - Tây Trường Sơn xuyên cả ba nước Đông Dương; nhiều trục ngang nối hai sườn Đông - Tây, nối tất cả các chiến trường, tạo nên một hệ thống giao thông liên hoàn và đồng bộ, đa dạng và kỳ hình.
Đây thực sự “là một hệ thống giao thông vận tải quân sự lớn nhất với nhiều trục dọc, trục ngang có độ dài 17.000 km, hệ thống đường ống dẫn xăng dầu dài 1.400 km, đường sông dài 600 km; có đường giao liên hành quân bộ và tải thương dài 1.200 km, mạng thông tin đường dây tải ba dài 1.350 km” (trích cuốn sách “Vị Tư lệnh chiến trường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh”, tác giả Phan Hữu Đại, Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân, năm 2012).
Chính trên những cung đường huyền thoại đó, hàng chục vạn bộ đội, thanh niên xung phong cùng phương tiện ô tô, xe cơ giới, máy móc, pháo cao xạ ngày đêm đương đầu với địch trong mưa bom bão đạn, sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Hệ thống đường Trường Sơn thực sự là chiến trường khốc liệt giữa nỗ lực của Chính phủ miền Bắc chi viện cho quân Giải phóng miền Nam và lực lượng quân Mỹ, đồng minh. Quân đội Mỹ và đồng minh đã tìm mọi cách từ thô sơ đến hiện đại nhất nhằm mục đích cắt đứt con đường vận tải chiến lược này.
Nhưng bằng sự mưu trí, sáng tạo, với bản lĩnh và ý chí quyết tâm phấn đấu đến cùng vì sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, Tư lệnh Đồng Sỹ Nguyên và bộ đội Trường Sơn đã thực hiện thành công công cuộc chi viện cho chiến trường miền Nam, làm thất bại mọi âm ưu chiến lược của kẻ thù, lập nên những chiến công vang dội, để lại những dấu son chói lọi trong lịch sử chiến tranh Việt Nam.
Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh đã làm tròn sứ mạng chuyển tải cơ sở vật chất, vũ khí, cơ động các lực lượng quân binh chủng với quy mô ngày càng lớn, cả chiến lược, chiến dịch, chiến thuật, thỏa mãn mọi nhu cầu, bảo đảm cho chiến trường đánh to thắng lớn.
Đặc biệt, tuyến đường góp phần rất quan trọng vào các quá trình thắng lợi của chiến tranh miền Nam nước ta, nhất là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 - đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh còn là một phát kiến của nghệ thuật chiến tranh Việt Nam.
Con đường tạo thế và lực cho chiến tranh nhân dân miền Nam, con đường chia cắt địch, là nơi xuất phát tiến công của các binh đoàn cơ động chiến lược. Chính nơi đây đã sáng tạo ra một kiểu tổ chức vận tải chiến lược, một binh đoàn binh chủng hợp thành lấy bộ đội vận tải làm trung tâm.
Hồi tưởng lại ký ức hào hùng chiến trường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh huyền thoại, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên đã từng chắp bút: “kỳ tích mà Bộ đội Trường Sơn, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến… đã lập nên trên tuyến đường mang tên Bác, vĩnh viễn đi vào lịch sử như một thiên anh hùng ca.
Khó có một tài năng nào, không giấy bút nào có thể ghi lại đầy đủ trí thông minh tuyệt vời, tinh thần dũng cảm vô song, sự hy sinh cao cả, tình đồng chí đồng đội sắt son, sâu sắc, cảm động… của những con người đã từng sống, chiến đấu trên tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại; đặc biệt là những chiến sĩ đã hy sinh vì sự sống của con đường và để đất nước trường tồn, phồn vinh” (trích Hồi ký “Với cả cuộc đời”, Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân, năm 2007).
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên là một vị tướng hết sức khiêm nhường, không bao giờ ỷ vào quyền lực để áp đặt mà ôn hòa lắng nghe, trao đổi, thương mến đồng chí đồng đội. Mỗi trận thắng, từng chiến công có được, với ông đó đều là thành tích và công lao của cả tập thể; trường hợp gặp thất bại hoặc chưa thành công ông đều nhận trách nhiệm về mình. Đó là điều không phải ai cũng làm được.
Thiếu tướng Bùi Đức Tạm, nguyên Phó Chính ủy Bộ Tư lệnh Trường Sơn đã viết: “Sự nghiệp vĩ đại của đường Trường Sơn anh hùng là do công sức, mồ hôi, trí tuệ của nhiều thế hệ cũng như hàng vạn liệt sỹ anh hùng đã hy sinh xương máu trong sự nghiệp giải phóng miền Nam, nhưng chúng ta không thể quên công lao to lớn của đồng chí Đồng Sỹ Nguyên trong xây dựng và chiến đấu trên tuyến đường...
Đồng chí xứng đáng là một trong những vị danh tướng tài ba của đất nước ta, của thời đại Hồ Chí Minh” (trích cuốn sách “Vị Tư lệnh chiến trường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh”, tác giả Phan Hữu Đại, Nhà Xuất bản Quân đội nhân dân).
Cảm phục và trân quý vị thủ lĩnh có tài thao lược, Đại tá Phan Hữu Đại - một cán bộ chiến đấu suốt 10 năm trên đường Trường Sơn dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tướng Đồng Sỹ Nguyên - tác giả cuốn sách “Vị Tư lệnh chiến trường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh” đã viết: “Tướng Đồng Sỹ Nguyên có cuộc đời hoạt động chiến đấu thật phong phú.
Nhưng cung bậc cao nhất là sự vật lộn trên chiến trường 559, chiến trường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh suốt 10 năm trường. Nơi đây ông đã tỏa sáng như một ngôi sao sáng tỏ nhất. Chính sự tỏa sáng ấy mà hàng chục vạn cán bộ, chiến sĩ chiến đấu cùng ông trên con đường đó đã làm nên một con đường vinh danh là huyền thoại”.
“Đồng chí Đồng Sỹ Nguyên là một vị tướng tài ba... có công lao lớn trong cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt đồng chí có công lớn đối với con đường chiến lược Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh...
Đối với tôi, Tướng Đồng Sỹ Nguyên là một trong những người đồng chí, người bạn chiến đấu thân thiết, gần gũi suốt cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc mà tôi rất tin và quý mến”. Đây là những lời nhận xét sâu sắc, khách quan, toàn diện của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Hồi ký “Với cả cuộc đời” khi nói về Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên - người đồng chí, đồng đội, đồng hương mà Đại tướng đặc biệt quý mến.
Đường Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh được ngợi ca như một huyền thoại, mãi mãi là niềm tự hào của nhân dân ta và sẽ đi vào lịch sử như một kỳ tích của dân tộc Việt Nam. Lịch sử và thế hệ hôm nay, mai sau mãi khắc ghi, tưởng nhớ những đóng góp, hy sinh xương máu của lớp lớp cha anh đi trước, đã ngã xuống vì độc lập, tự do cho hôm nay. Hình ảnh về vị danh tướng Đồng Sỹ Nguyên tài trí, đức độ sẽ mãi là ngọn đuốc thiêng soi rọi cho thế hệ trẻ học tập và noi theo.
 

Hàng vạn người rưng rưng viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp dịp Tết Kỷ Hợi 2019

Email In PDF.
Nhiều người không kìm được xúc động đã bật khóc trước mộ. Còn chúng tôi, những người con của miền Đông Nam bộ cũng không kìm được nước mắt khi đặt bó hoa huệ trắng bên lề mộ, thắp nén hương trầm khấn dâng Đại tướng phù hộ độ trì cho quốc thái dân an, thế giới hòa bình.
Chung một tấm lòng
Sau chặng đường gần 1.000 km từ thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đến Vũng Chùa Đảo Yến chiều mùng 4 Tết Kỷ Hợi. Mặc dù khi ngồi trên xe đã tự nhủ phải kìm nén xúc động, nhưng khi nhìn dòng người cầm hoa huệ trắng đặt trước mộ Đại tướng trong tiếng nhạc tử sĩ trầm buồn, lòng tôi chùng xuống, nước mắt rưng rưng. Trước người đồng đội - vị tướng đáng kính, tất cả trong tôi là niềm kiêu hãnh, cảm xúc thiêng liêng ùa đến dâng trào.
Lần thứ hai đến Vũng Chùa, cầm trên tay bông huệ trắng, đứng trước mộ Đại tướng, anh Hoàng Long (đến từ Vũng Tàu) rưng rưng, nói: “Chúng con từ phương Nam ra viếng mộ Bác. Mong Bác vĩnh hằng trong lòng đất mẹ”. Anh Long cho biết thêm, bố anh là sĩ quan hải quân đã từng công tác ở vùng biển Trường Sa năm 1988. Ngoài viếng Đại tướng, anh còn đến để thắp nén hương thay cho bố anh nữa. “Trong hành trình xuyên Việt đến Hà Nội, viếng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp là điểm “phượt” thứ ba sau Phú Yên và Huế của chúng tôi. Đây cũng là dịp để chúng tôi tri ân, tưởng nhớ đến vị tướng tài danh của dân tộc”, anh Long chia sẻ.

Hàng ngàn người đặt hoa trước mộ đại tướng, tất cả một tấm lòng thành kính tri ân
“Phượt” cả ngàn cây số từ thành phố mang tên Bác, vợ chồng anh Vũ Trần Thoại, chị Trần Thị Liên ở huyện Nhà Bè cũng không kìm được xúc động khi tận mắt nhìn lên mộ Đại tướng, tận tay cầm nắm cát Vũng Chùa- nơi Đại tướng yên nghỉ cuối cùng trong hành trình sự sống. Chị Liên xúc động bày tỏ: “Đây là lần đầu em tới đây. Trước mộ Đại tướng, một cảm xúc vô cùng thiêng liêng. Lần này đi còn có hai đứa con em nữa. Đây cũng là dịp để giáo dục cho con em lòng yêu nước và truyền thống của dân tộc”.
Mặc dù đã đôi lần đến nơi Đại tướng an nghỉ vĩnh hằng, nhưng anh Trần Vũ Thoại vẫn không kìm nén được xúc động: “Mỗi lần đến đây trong đầu tôi như có thêm sự mở mang, trí tuệ. Ngày xuân đến mộ Đại tướng để cảm phục tri ân, để răn dạy con cháu mình biết trận trọng lịch sử, nhớ về nguồn cội”, anh Thoại chia sẻ
Đã hơn 4 năm nay, tết nào bà Võ Thị Nhài người ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình cũng đến thăm viếng mộ Đại tướng. Bà Nhài xếp hàng trong dòng người lặng lẽ, bước từng bước chậm. Bà khoanh tay trước ngực cố kìm nén cảm xúc: “Tui là người dân địa phương ni. Hàng trăm lần đến viếng mộ bác, răng mà lần mô cũng không cầm được nước mắt. Hầu như ai đến viếng Đại tướng cũng khóc. Người khóc lúc thắp hương, có người vừa đi trong hàng vừa khóc”, Bà Nhài chia sẻ
Những người giữ bình yên cho Đại tướng
Đến Vũng Chùa Đảo Yến viếng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp những ngày xuân Mậu Tuất, sau những giọt nước mắt xúc động cảm phục Đại tướng nhân dân, chúng tôi không khỏi bồi hồi khi nghe cán bộ chiến sĩ Biên Phòng đang ngày đêm canh gác giữ an ninh trật tự cho Đại tướng mãi yên nghỉ trong lòng đất mẹ.

Dòng người viếng đại tướng Võ Nguyên Giáp chiều mùng 4 tết
Là người có mặt ngay từ những ngày đầu tiên khi linh cữu của Đại tướng được đưa bằng đường hàng không từ Hà Nội vào Vũng Chùa, Thượng tá Phạm Xuân Diệu, Phó chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Bình cho biết, đơn vị của anh được giao nhiệm vụ tuần tra canh gác, bảo vệ an toàn tuyệt đối vòng ngoài, vòng trong khu mộ Đại tướng. “Khi sinh thời, Đại tướng được bảo vệ cẩn mật như thế nào, thì khi Đại tướng ra đi cũng được bảo vệ nghiêm ngặt như vậy. Bất kể nắng mưa, ngày, đêm, lạnh giá hay nóng nực, mộ Đại tướng được phải được túc trực canh gác an toàn. Chúng tôi coi đây là nhiệm vụ đặc biệt, đồng thời là nghĩa vụ, tình cảm thiêng liêng đối với Đại tướng”, Thượng tá Diệu cho biết.
Thượng tá Diệu kể, những ngày đầu tiên khi Đại tướng được an táng tại đây, hằng đêm, dòng người từ khắp nơi đổ về khấn viếng. Có người mang ảnh Đại tướng bên mình, có cựu binh già chống gậy leo từng bậc thang, hàng ngàn thiếu niên, nhi đồng mặc đồng phục nối dài viếng mộ. Màn đêm càng sâu, dòng người càng nối dài. Tất cả đến đây không ai cầm được nước mắt. Trước thực tiễn ấy, cán bộ chiến sĩ Bộ đội Biên Phòng tỉnh Quảng Bình đã quán triệt sâu sắc: “Thương Đại tướng, không mềm lòng”. – Nghĩa là gì thưa anh? Tôi hỏi. Thượng tá Diệu chia sẻ: “Tức là dù thương Đại tướng nhưng cũng không được rơi nước mắt trước mặt nhân dân. Đây là thể hiện bản lĩnh của người lính Cụ Hồ, không yếu mềm trước những đau thương tổn thất mất mát to lớn”.
Những ngày xuân Kỷ Hợi này, có hàng chục vạn lượt người khắp nơi hành hương đến Vũng Chùa viếng mộ Đại tướng. Hàng trăm lượt cán bộ chiến sĩ của Đồn Biên phòng Roòn thuộc Bộ đội Biên Phòng Quảng Bình thay phiên nhau túc trực, canh gác, tuần tra bảo đảm an toàn tuyệt đối cho khu mộ. Chứng kiến trăm niềm xúc động, ngàn giọt nước mắt, những tiếng nấc nghẹn ngào, những lời tha thiết nhớ thương Đại tướng, những người lính Biên Phòng không khỏi bùi ngùi. Nhưng, bản lĩnh của người lính không được phép mềm yếu trước đau thương, không được rơi nước mắt trước người dân, dẫu trong trái tim đồng cảm chung niềm cảm phục. Đại úy Đồng Thanh Hải, Đội phó đội bảo vệ khu mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp chia sẻ: “Những ngày đầu khi nhìn dòng người khóc, ôm súng gác, chúng tôi phải nuốt nước mắt vào trong, cố kìm nén cảm xúc. Bây giờ vẫn vậy, nhưng bản lĩnh người lính không được rơi nước mắt”.
Đất trời Quảng Bình những ngày xuân mới se lạnh. Hàng vạn người khắp mọi miền Tổ quốc vẫn đang hành hương đến Vũng Chùa Đảo Yến để viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Dù doanh nhân hay dân thường, giáo viên hay bộ đội, kẻ giàu sang hay người nghèo khó, người công giáo hay lương dân… tất cả đều chung một dòng cảm xúc biết ơn, tri ân Đại tướng. Còn chúng tôi- những người con từ đất phương Nam sẽ chẳng bao giờ quên một lần về nơi gió cát- Vũng Chùa Đảo Yến, nơi đại tướng an nghỉ vĩnh hằng.
Lê Khanh

Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 09 Tháng 2 2019 06:45 )
 

Dấu ấn Võ Nguyên Giáp trong lịch sử quân sự thế giới

Email In PDF.
Đánh bại 10 tướng, suốt 30 năm cầm quân không phạm sai lầm chiến lược nào, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một hiện tượng hy hữu trong quân sử thế giới.

Bậc thầy về kết hợp chiến tranh du kích với chính quy
Cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 là cuộc chiến tranh dài nhất lịch sử nhân loại. Trong cuộc chiến tranh ấy, Việt Nam luôn ở thế yếu hơn các đối thủ. Yếu hơn về mọi phương diện nhưng nghịch lý là Việt Nam lại luôn luôn nắm quyền chủ động chiến trường.
Trong 9 năm chống Pháp, chỉ sau chiến dịch Việt Bắc 1947, quân Pháp liền rơi vào thế bị động sau khi Đại tướng đưa vào thực thi kế hoạch phân tán bộ đội vào hoạt động trong vùng địch hậu. Cuốn tài liệu nổi tiếng của ông về vấn đề này là Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung.
Theo tinh thần này, các đơn vị lớn phân tán thành từng đại đội nhỏ, luồn sâu vào trong vùng địch tạm chiếm để làm chỗ dựa cho phong trào đồng thời phát triển thêm lực lượng. Khi cần thiết thì tập hợp lại thành những tiểu đoàn để tác chiến.
Ngay lập tức, “cú đấm” của quân Pháp đã đấm vào khoảng không vì không tìm đâu ra chủ lực của đối phương nhưng ở bất kỳ đâu chúng cũng bị đánh tơi tả, phải rút khỏi Việt Bắc. Theo sau thất bại ấy chúng phải về lo củng cố hậu phương, xây tháp canh, khống chế giao thông lập các vùng tề ngụy.
Các đại đội độc lập hoạt động trong vùng tạm chiếm chính là ý nghĩa khởi nguyên ban đầu cho sự kết hợp tuyệt diệu giữa chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích. Du kích có chủ lực hỗ trợ thì du kích mạnh, chủ lực có du kích hỗ trợ thì thông thuộc đường sá và có chỗ dựa vững chắc về các mặt hậu cần.
Đến kháng chiến chống Mỹ, sự kết hợp này lại tiếp tục được phát triển lên đỉnh cao mới. Lực lượng của ta tuy ít hơn Mỹ – Ngụy nhưng bất kỳ cuộc hành quân nào của chúng, đến đâu cũng bị bắn tỉa, đặt mìn là vì du kích ta có ở mọi nơi. Trong khi đó, chủ lực ta lại tập trung và thường xuyên cơ động đánh vào những nơi địch tương đối yếu hoặc do tập trung quân đi càn quét mà sơ hở.
Ngay cả trên miền Bắc, trong cuộc chiến chống sự phá hoại của không quân và hải quân Mỹ, một cuộc chiến tưởng chừng chỉ có bộ đội chính quy với các khí tài hiện đại mới tham gia được. Nhưng thực tế đã cho thấy trong cuộc chiến ấy có sự tham gia của đủ 3 thứ quân. Chắc nhiều người vẫn còn nhớ hình ảnh các cụ già Hoằng Hóa bắn rơi máy bay với súng máy 12,7 mm hoặc các đội tự vệ nhà máy, đội dân quân ở Tam Đảo đã đặt súng đón lõng trên đường bay của máy bay F-111 để bắn rơi loại máy bay đắt tiền hiện đại nhất của Mỹ chỉ với súng bộ binh hoặc 12,7 mm.
Tướng Peter Mac Donald – nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Anh khi viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ghi những dòng trang trọng: “Với 30 năm làm tổng tư lệnh và gần 50 năm tham gia chính sự ở cấp cao nhất, ông tỏ ra là người có phẩm chất phi thường trong mọi lĩnh vực của chiến tranh. Khó có vị tướng nào có thể so sánh với ông trong việc kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính qui. Sự kết hợp đó xưa nay chưa từng có”.
Vị tướng hậu cần kiệt xuất
Trong tác phẩm “Chiến thắng bằng mọi giá – Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thiên tài của Việt Nam”, nhà sử học Mỹ Ceceil Curay cho rằng: “Ông Giáp là chuyên gia hiện hữu vĩ đại nhất về chiến tranh nhân dân… là một vị tướng hậu cần vĩ đại của mọi thời đại”.
Lời đánh giá của Cecei Curay quả thực xác đáng. Vì có thể nói không ngoa rằng, chưa có vị tướng nào làm nhiều đường sá như Tướng Giáp. Chỉ tính riêng con đường vận tải Trường Sơn đã vượt qua rất xa cả về quy mô lẫn tính phức tạp so với con đường Miến Điện nổi tiếng trong Chiến tranh Thế giới thứ 2.
Con đường Trường Sơn đã nối liền được hậu phương lớn với tiền tuyến lớn. Sự ra đời của con đường có bàn tay chỉ đạo sát sao của Đại tướng và chính nó nằm trong một chỉnh thể tư duy quân sự của ông.
Ta không thể thắng Mỹ bằng một trận đánh dàn quân quy ước. Vậy chỉ còn cách phải phát triển tiếp lối đánh đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung thời đánh Pháp. Đưa chủ lực vào để hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân đồng thời huấn luyện du kích để tạo thành cái thế đấu tranh trên hai chân (chính trị – quân sự). Muốn như thế thì phải có đường vận chuyển. Do đó đường Trường Sơn ra đời và nó chính là điểm mấu chốt trong công tác hậu cần của ta thời chống Mỹ.
Trong từng trận đánh cụ thể, Đại tướng lại càng quan tâm đến công tác hậu cần. Lý do chính để Đại tướng hoãn trận Điện Biên Phủ là do phương án chiến đấu chưa đảm bảo chắc thắng đồng thời còn nhiều khó khăn đặt ra trong quá trình chiến đấu mà chưa có biện pháp khắc phục.
Khi tổ chức lại theo phương án “đánh chắc tiến chắc”, Đại tướng đã chỉ đạo làm lại công tác hậu cần từ đầu để đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho thắng lợi.
Một câu chuyện được kể trong hồi ký Chiến trường mới của Thượng tướng Nguyễn Hữu An cho thấy mối quan tâm của Đại tướng đối với công tác hậu cần trong chiến đấu.
Đó là trong chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum mang mật danh là chiến dịch Z diễn ra cuối năm 1971. Cuối tháng 11, tướng An về Hà Nội báo cáo quyết tâm và kế hoạch chiến dịch sau một thời gian nghiên cứu chiến trường. Cuối buổi họp, tướng Giáp nhắc đi nhắc lại: “Phải đảm bảo chắc thắng. Khi chuẩn bị vào Loong Chẹng phải nhớ làm đường vận tải tiếp tế hậu cần trước”.
Tuy nhiên, khi kết thúc đợt 1 chiến dịch, một số sĩ quan ở mặt trận nóng vội đã ra lệnh: phải thừa thánh tiến nhanh vào Loong Chẹng, bỏ qua việc làm đường tiếp tế hậu cần. Nhớ lại lời dặn của tướng Giáp, tướng An có ý kiến dừng lại làm đường nhưng trong không khí thừa thắng, ít người quan tâm. Cuối cùng đã không làm đường mà cứ thế xông thẳng lên. Kết quả là pháo không bắn tới tầm nên không yểm trợ được cho bộ binh. Cuối cùng quân ta không hoàn thành được mục tiêu Loong Chẹng trong đợt 2 chiến dịch.
Theo KIẾN THỨC
Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 31 Tháng 1 2019 06:08 )
 
Trang 1 trong tổng số 109 trang.
Bạn đang ở: Trang chủ