Lịch âm dương

Xem tin theo ngày

< Tháng 3 2019 >
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30 31

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1203
mod_vvisit_counterHôm qua3609
mod_vvisit_counterTuần này4812
mod_vvisit_counterTuần trước22986
mod_vvisit_counterTháng này59153
mod_vvisit_counterTháng trước61012
mod_vvisit_counterTất cả5012073

Có: 10 khách trực tuyến

Tin tức - Sự kiện

Hàng vạn người rưng rưng viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp dịp Tết Kỷ Hợi 2019

Email In PDF.
Nhiều người không kìm được xúc động đã bật khóc trước mộ. Còn chúng tôi, những người con của miền Đông Nam bộ cũng không kìm được nước mắt khi đặt bó hoa huệ trắng bên lề mộ, thắp nén hương trầm khấn dâng Đại tướng phù hộ độ trì cho quốc thái dân an, thế giới hòa bình.
Chung một tấm lòng
Sau chặng đường gần 1.000 km từ thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đến Vũng Chùa Đảo Yến chiều mùng 4 Tết Kỷ Hợi. Mặc dù khi ngồi trên xe đã tự nhủ phải kìm nén xúc động, nhưng khi nhìn dòng người cầm hoa huệ trắng đặt trước mộ Đại tướng trong tiếng nhạc tử sĩ trầm buồn, lòng tôi chùng xuống, nước mắt rưng rưng. Trước người đồng đội - vị tướng đáng kính, tất cả trong tôi là niềm kiêu hãnh, cảm xúc thiêng liêng ùa đến dâng trào.
Lần thứ hai đến Vũng Chùa, cầm trên tay bông huệ trắng, đứng trước mộ Đại tướng, anh Hoàng Long (đến từ Vũng Tàu) rưng rưng, nói: “Chúng con từ phương Nam ra viếng mộ Bác. Mong Bác vĩnh hằng trong lòng đất mẹ”. Anh Long cho biết thêm, bố anh là sĩ quan hải quân đã từng công tác ở vùng biển Trường Sa năm 1988. Ngoài viếng Đại tướng, anh còn đến để thắp nén hương thay cho bố anh nữa. “Trong hành trình xuyên Việt đến Hà Nội, viếng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp là điểm “phượt” thứ ba sau Phú Yên và Huế của chúng tôi. Đây cũng là dịp để chúng tôi tri ân, tưởng nhớ đến vị tướng tài danh của dân tộc”, anh Long chia sẻ.

Hàng ngàn người đặt hoa trước mộ đại tướng, tất cả một tấm lòng thành kính tri ân
“Phượt” cả ngàn cây số từ thành phố mang tên Bác, vợ chồng anh Vũ Trần Thoại, chị Trần Thị Liên ở huyện Nhà Bè cũng không kìm được xúc động khi tận mắt nhìn lên mộ Đại tướng, tận tay cầm nắm cát Vũng Chùa- nơi Đại tướng yên nghỉ cuối cùng trong hành trình sự sống. Chị Liên xúc động bày tỏ: “Đây là lần đầu em tới đây. Trước mộ Đại tướng, một cảm xúc vô cùng thiêng liêng. Lần này đi còn có hai đứa con em nữa. Đây cũng là dịp để giáo dục cho con em lòng yêu nước và truyền thống của dân tộc”.
Mặc dù đã đôi lần đến nơi Đại tướng an nghỉ vĩnh hằng, nhưng anh Trần Vũ Thoại vẫn không kìm nén được xúc động: “Mỗi lần đến đây trong đầu tôi như có thêm sự mở mang, trí tuệ. Ngày xuân đến mộ Đại tướng để cảm phục tri ân, để răn dạy con cháu mình biết trận trọng lịch sử, nhớ về nguồn cội”, anh Thoại chia sẻ
Đã hơn 4 năm nay, tết nào bà Võ Thị Nhài người ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình cũng đến thăm viếng mộ Đại tướng. Bà Nhài xếp hàng trong dòng người lặng lẽ, bước từng bước chậm. Bà khoanh tay trước ngực cố kìm nén cảm xúc: “Tui là người dân địa phương ni. Hàng trăm lần đến viếng mộ bác, răng mà lần mô cũng không cầm được nước mắt. Hầu như ai đến viếng Đại tướng cũng khóc. Người khóc lúc thắp hương, có người vừa đi trong hàng vừa khóc”, Bà Nhài chia sẻ
Những người giữ bình yên cho Đại tướng
Đến Vũng Chùa Đảo Yến viếng mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp những ngày xuân Mậu Tuất, sau những giọt nước mắt xúc động cảm phục Đại tướng nhân dân, chúng tôi không khỏi bồi hồi khi nghe cán bộ chiến sĩ Biên Phòng đang ngày đêm canh gác giữ an ninh trật tự cho Đại tướng mãi yên nghỉ trong lòng đất mẹ.

Dòng người viếng đại tướng Võ Nguyên Giáp chiều mùng 4 tết
Là người có mặt ngay từ những ngày đầu tiên khi linh cữu của Đại tướng được đưa bằng đường hàng không từ Hà Nội vào Vũng Chùa, Thượng tá Phạm Xuân Diệu, Phó chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng tỉnh Quảng Bình cho biết, đơn vị của anh được giao nhiệm vụ tuần tra canh gác, bảo vệ an toàn tuyệt đối vòng ngoài, vòng trong khu mộ Đại tướng. “Khi sinh thời, Đại tướng được bảo vệ cẩn mật như thế nào, thì khi Đại tướng ra đi cũng được bảo vệ nghiêm ngặt như vậy. Bất kể nắng mưa, ngày, đêm, lạnh giá hay nóng nực, mộ Đại tướng được phải được túc trực canh gác an toàn. Chúng tôi coi đây là nhiệm vụ đặc biệt, đồng thời là nghĩa vụ, tình cảm thiêng liêng đối với Đại tướng”, Thượng tá Diệu cho biết.
Thượng tá Diệu kể, những ngày đầu tiên khi Đại tướng được an táng tại đây, hằng đêm, dòng người từ khắp nơi đổ về khấn viếng. Có người mang ảnh Đại tướng bên mình, có cựu binh già chống gậy leo từng bậc thang, hàng ngàn thiếu niên, nhi đồng mặc đồng phục nối dài viếng mộ. Màn đêm càng sâu, dòng người càng nối dài. Tất cả đến đây không ai cầm được nước mắt. Trước thực tiễn ấy, cán bộ chiến sĩ Bộ đội Biên Phòng tỉnh Quảng Bình đã quán triệt sâu sắc: “Thương Đại tướng, không mềm lòng”. – Nghĩa là gì thưa anh? Tôi hỏi. Thượng tá Diệu chia sẻ: “Tức là dù thương Đại tướng nhưng cũng không được rơi nước mắt trước mặt nhân dân. Đây là thể hiện bản lĩnh của người lính Cụ Hồ, không yếu mềm trước những đau thương tổn thất mất mát to lớn”.
Những ngày xuân Kỷ Hợi này, có hàng chục vạn lượt người khắp nơi hành hương đến Vũng Chùa viếng mộ Đại tướng. Hàng trăm lượt cán bộ chiến sĩ của Đồn Biên phòng Roòn thuộc Bộ đội Biên Phòng Quảng Bình thay phiên nhau túc trực, canh gác, tuần tra bảo đảm an toàn tuyệt đối cho khu mộ. Chứng kiến trăm niềm xúc động, ngàn giọt nước mắt, những tiếng nấc nghẹn ngào, những lời tha thiết nhớ thương Đại tướng, những người lính Biên Phòng không khỏi bùi ngùi. Nhưng, bản lĩnh của người lính không được phép mềm yếu trước đau thương, không được rơi nước mắt trước người dân, dẫu trong trái tim đồng cảm chung niềm cảm phục. Đại úy Đồng Thanh Hải, Đội phó đội bảo vệ khu mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp chia sẻ: “Những ngày đầu khi nhìn dòng người khóc, ôm súng gác, chúng tôi phải nuốt nước mắt vào trong, cố kìm nén cảm xúc. Bây giờ vẫn vậy, nhưng bản lĩnh người lính không được rơi nước mắt”.
Đất trời Quảng Bình những ngày xuân mới se lạnh. Hàng vạn người khắp mọi miền Tổ quốc vẫn đang hành hương đến Vũng Chùa Đảo Yến để viếng Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Dù doanh nhân hay dân thường, giáo viên hay bộ đội, kẻ giàu sang hay người nghèo khó, người công giáo hay lương dân… tất cả đều chung một dòng cảm xúc biết ơn, tri ân Đại tướng. Còn chúng tôi- những người con từ đất phương Nam sẽ chẳng bao giờ quên một lần về nơi gió cát- Vũng Chùa Đảo Yến, nơi đại tướng an nghỉ vĩnh hằng.
Lê Khanh

Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 09 Tháng 2 2019 06:45 )
 

Dấu ấn Võ Nguyên Giáp trong lịch sử quân sự thế giới

Email In PDF.
Đánh bại 10 tướng, suốt 30 năm cầm quân không phạm sai lầm chiến lược nào, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một hiện tượng hy hữu trong quân sử thế giới.

Bậc thầy về kết hợp chiến tranh du kích với chính quy
Cuộc chiến tranh ở Việt Nam từ năm 1945 đến 1975 là cuộc chiến tranh dài nhất lịch sử nhân loại. Trong cuộc chiến tranh ấy, Việt Nam luôn ở thế yếu hơn các đối thủ. Yếu hơn về mọi phương diện nhưng nghịch lý là Việt Nam lại luôn luôn nắm quyền chủ động chiến trường.
Trong 9 năm chống Pháp, chỉ sau chiến dịch Việt Bắc 1947, quân Pháp liền rơi vào thế bị động sau khi Đại tướng đưa vào thực thi kế hoạch phân tán bộ đội vào hoạt động trong vùng địch hậu. Cuốn tài liệu nổi tiếng của ông về vấn đề này là Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung.
Theo tinh thần này, các đơn vị lớn phân tán thành từng đại đội nhỏ, luồn sâu vào trong vùng địch tạm chiếm để làm chỗ dựa cho phong trào đồng thời phát triển thêm lực lượng. Khi cần thiết thì tập hợp lại thành những tiểu đoàn để tác chiến.
Ngay lập tức, “cú đấm” của quân Pháp đã đấm vào khoảng không vì không tìm đâu ra chủ lực của đối phương nhưng ở bất kỳ đâu chúng cũng bị đánh tơi tả, phải rút khỏi Việt Bắc. Theo sau thất bại ấy chúng phải về lo củng cố hậu phương, xây tháp canh, khống chế giao thông lập các vùng tề ngụy.
Các đại đội độc lập hoạt động trong vùng tạm chiếm chính là ý nghĩa khởi nguyên ban đầu cho sự kết hợp tuyệt diệu giữa chiến tranh chính quy và chiến tranh du kích. Du kích có chủ lực hỗ trợ thì du kích mạnh, chủ lực có du kích hỗ trợ thì thông thuộc đường sá và có chỗ dựa vững chắc về các mặt hậu cần.
Đến kháng chiến chống Mỹ, sự kết hợp này lại tiếp tục được phát triển lên đỉnh cao mới. Lực lượng của ta tuy ít hơn Mỹ – Ngụy nhưng bất kỳ cuộc hành quân nào của chúng, đến đâu cũng bị bắn tỉa, đặt mìn là vì du kích ta có ở mọi nơi. Trong khi đó, chủ lực ta lại tập trung và thường xuyên cơ động đánh vào những nơi địch tương đối yếu hoặc do tập trung quân đi càn quét mà sơ hở.
Ngay cả trên miền Bắc, trong cuộc chiến chống sự phá hoại của không quân và hải quân Mỹ, một cuộc chiến tưởng chừng chỉ có bộ đội chính quy với các khí tài hiện đại mới tham gia được. Nhưng thực tế đã cho thấy trong cuộc chiến ấy có sự tham gia của đủ 3 thứ quân. Chắc nhiều người vẫn còn nhớ hình ảnh các cụ già Hoằng Hóa bắn rơi máy bay với súng máy 12,7 mm hoặc các đội tự vệ nhà máy, đội dân quân ở Tam Đảo đã đặt súng đón lõng trên đường bay của máy bay F-111 để bắn rơi loại máy bay đắt tiền hiện đại nhất của Mỹ chỉ với súng bộ binh hoặc 12,7 mm.
Tướng Peter Mac Donald – nhà nghiên cứu lịch sử quân sự Anh khi viết về Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ghi những dòng trang trọng: “Với 30 năm làm tổng tư lệnh và gần 50 năm tham gia chính sự ở cấp cao nhất, ông tỏ ra là người có phẩm chất phi thường trong mọi lĩnh vực của chiến tranh. Khó có vị tướng nào có thể so sánh với ông trong việc kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính qui. Sự kết hợp đó xưa nay chưa từng có”.
Vị tướng hậu cần kiệt xuất
Trong tác phẩm “Chiến thắng bằng mọi giá – Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thiên tài của Việt Nam”, nhà sử học Mỹ Ceceil Curay cho rằng: “Ông Giáp là chuyên gia hiện hữu vĩ đại nhất về chiến tranh nhân dân… là một vị tướng hậu cần vĩ đại của mọi thời đại”.
Lời đánh giá của Cecei Curay quả thực xác đáng. Vì có thể nói không ngoa rằng, chưa có vị tướng nào làm nhiều đường sá như Tướng Giáp. Chỉ tính riêng con đường vận tải Trường Sơn đã vượt qua rất xa cả về quy mô lẫn tính phức tạp so với con đường Miến Điện nổi tiếng trong Chiến tranh Thế giới thứ 2.
Con đường Trường Sơn đã nối liền được hậu phương lớn với tiền tuyến lớn. Sự ra đời của con đường có bàn tay chỉ đạo sát sao của Đại tướng và chính nó nằm trong một chỉnh thể tư duy quân sự của ông.
Ta không thể thắng Mỹ bằng một trận đánh dàn quân quy ước. Vậy chỉ còn cách phải phát triển tiếp lối đánh đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung thời đánh Pháp. Đưa chủ lực vào để hỗ trợ phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân đồng thời huấn luyện du kích để tạo thành cái thế đấu tranh trên hai chân (chính trị – quân sự). Muốn như thế thì phải có đường vận chuyển. Do đó đường Trường Sơn ra đời và nó chính là điểm mấu chốt trong công tác hậu cần của ta thời chống Mỹ.
Trong từng trận đánh cụ thể, Đại tướng lại càng quan tâm đến công tác hậu cần. Lý do chính để Đại tướng hoãn trận Điện Biên Phủ là do phương án chiến đấu chưa đảm bảo chắc thắng đồng thời còn nhiều khó khăn đặt ra trong quá trình chiến đấu mà chưa có biện pháp khắc phục.
Khi tổ chức lại theo phương án “đánh chắc tiến chắc”, Đại tướng đã chỉ đạo làm lại công tác hậu cần từ đầu để đảm bảo những điều kiện tốt nhất cho thắng lợi.
Một câu chuyện được kể trong hồi ký Chiến trường mới của Thượng tướng Nguyễn Hữu An cho thấy mối quan tâm của Đại tướng đối với công tác hậu cần trong chiến đấu.
Đó là trong chiến dịch giải phóng Cánh Đồng Chum mang mật danh là chiến dịch Z diễn ra cuối năm 1971. Cuối tháng 11, tướng An về Hà Nội báo cáo quyết tâm và kế hoạch chiến dịch sau một thời gian nghiên cứu chiến trường. Cuối buổi họp, tướng Giáp nhắc đi nhắc lại: “Phải đảm bảo chắc thắng. Khi chuẩn bị vào Loong Chẹng phải nhớ làm đường vận tải tiếp tế hậu cần trước”.
Tuy nhiên, khi kết thúc đợt 1 chiến dịch, một số sĩ quan ở mặt trận nóng vội đã ra lệnh: phải thừa thánh tiến nhanh vào Loong Chẹng, bỏ qua việc làm đường tiếp tế hậu cần. Nhớ lại lời dặn của tướng Giáp, tướng An có ý kiến dừng lại làm đường nhưng trong không khí thừa thắng, ít người quan tâm. Cuối cùng đã không làm đường mà cứ thế xông thẳng lên. Kết quả là pháo không bắn tới tầm nên không yểm trợ được cho bộ binh. Cuối cùng quân ta không hoàn thành được mục tiêu Loong Chẹng trong đợt 2 chiến dịch.
Theo KIẾN THỨC
Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 31 Tháng 1 2019 06:08 )
 

Tư duy quân sự thiên tài của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong kháng chiến chống Pháp

Email In PDF.
ANTĐ Đại tướng Võ Nguyên Giáp không qua một trường lớp quân sự chính quy nào, ông học tập và trưởng thành trong thực tế là chính. Ông không xử trí chiến thuật quân sự bằng những “giải pháp quân sự cố định của học đường”, mà luôn xuất phát từ thực tế chiến trường để giải quyết mọi tình huống ngoài dự kiến và lật ngược thế cờ.
Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung
Mùa đông năm 1947, quân Pháp mở cuộc tấn công lớn lên Việt Bắc với mục tiêu lùng bắt cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt lực lượng chủ lực của Việt Minh để kết thúc chiến tranh. Địch chia quân 2 cánh hòng tạo ra 2 gọng kìm vây lấy quân ta. Không chỉ trong giai đoạn này mà kể cả từ khi cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu nổ ra, so sánh mọi mặt, quân ta luôn ở thế yếu hơn địch, cả về quân số và vũ khí trang bị, cuộc kháng chiến đang ở trong giai đoạn phòng ngự và ta đang tìm cách để chuyển hóa sang giai đoạn cầm cự.
Trong binh pháp, lúc này quân Pháp đang ở thế “Chủ”, và ta ở bên “Khách” nhưng “Chủ” và “Khách” ở đây không mang ý nghĩa thông thường. Pháp mở chiến dịch Việt Bắc là “chủ động” nhằm tìm diệt quân chủ lực của ta, nếu chiến dịch này thành công họ sẽ là bên giành quyền "chủ động" trên chiến trường, đưa ta vào thế “bị động”, đẩy cuộc kháng chiến của ta lún sâu vào thế trận phòng ngự.
Vấn đề quan trọng nhất trong thời điểm này là phải có phương án tác chiến thích hợp để đập tan được cuộc tấn công của địch, mà vẫn bảo toàn được lực lượng của ta để kháng chiến lâu dài. Nếu thắng lợi trong chiến dịch này, ta có thể thoát khỏi thế trận phòng ngự, giành quyền chủ động tấn công nhất định trên chiến trường, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc chiến tranh chuyển hóa sang giai đoạn cầm cự, buộc Pháp phải bỏ chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh”.
Trong đợt toàn quốc kháng chiến năm 1946, có lúc ta tổ chức đánh lớn, dàn quân ra đánh với địch như ở Hà Đông, nhưng không hiệu quả do trang bị của ta thô sơ, bất lợi khi giao chiến theo hình thức chiến tranh quy ước với địch. Nhận thức được vấn đề đó, Đại tướng hiểu rằng tránh đối đầu trực tiếp trên quy mô lớn với địch là thượng sách nhưng như vậy ta phải làm thế nào để bảo vệ đầu não kháng chiến, đập tan cuộc hành quân trên quy mô lớn của địch?
Trong tình thế hiểm nghèo đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được nghe báo cáo có 1 đại đội bị lạc đơn vị đã nương tựa vào nhân dân Hà Bắc, vừa chiến đấu vừa phát triển lực lượng trong lòng địch. Câu chuyện đã lóe lên trong đầu vị tướng thiên tài một câu trả lời mà bấy lâu ông đang tìm kiếm. Ta sẽ phân tán lực lượng ra, kẻ địch sẽ không thể tìm thấy thứ chúng muốn tìm là chủ lực ta, ngược lại, chúng sẽ bị ta đánh ở khắp nới và sẽ bị nhấn chìm trong núi rừng Việt Bắc.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp được tôn vinh là thiên tài quân sự thế giới
Ngay sau đó, Đại tướng liền trình kế hoạch tổ chức lực lượng theo phương châm “Đại đội độc lập - Tiểu đoàn tập trung” lên Trung ương Đảng và Bác Hồ. Trong cuộc họp ngày 14/10/1947, Trung ương và Bác đã nhất trí thông qua kế hoạch, cho tổ chức quân đội ta thành những đại đội độc lập đi vào hoạt động trong vùng địch tạm chiếm để biến hậu phương địch thành tiền phương của ta.
Đây có thể được coi là sự vận dụng cực kỳ sáng tạo một mưu kế kinh điển trong Binh pháp Tôn Tử là “Phản khách vi chủ” của Đại tướng ở tầm chiến lược, biến quân địch từ thế chủ động “tìm diệt” trở thành bị động, gặp phải sự tấn công trên khắp cả chiến trường. Còn ta, từ kẻ bị săn lùng trở thành người chủ động “tìm diệt” quân địch, khiến cho chúng không đạt được mục đích tiêu diệt chủ lực ta mà còn bị tiêu hao sinh lực lớn.
Nhờ công thức “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”, quân ta tiếp tục giữ vững thế chủ động trong chiến dịch Việt Bắc và trên cả miền Bắc đẩy quân Pháp vào thế bị động, căng mỏng binh lực ra đối phó. Sau thất bại ở Việt Bắc, quân Pháp ngày càng phải lo lắng nhiều đến việc giữ gìn vùng chiếm đóng vì các đại đội chủ lực của ta đã đi vào hoạt động thúc đẩy phong trào đấu tranh của du kích và nhân dân lên một bước mới, không cho chúng rảnh tay tập trung quân càn quét.
Do quyết định sáng suốt của Đại tướng Tổng tư lệnh, chiến dịch Việt Bắc của địch đã thất bại thảm hại. Pháp không những không diệt được đầu não kháng chiến của ta mà còn bị tổn thất hết sức nặng nề, buộc phải bỏ chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh chuyển sang đánh lâu dài với ta, cuộc kháng chiến thuận lợi chuyển sang giai đoạn cầm cự, hai bên giằng co quyết liệt trên chiến trường.
Hủy Cao Bằng, chọn Đông Khê để “đánh điểm, diệt viện”
Đầu năm 1950, cuộc kháng chiến đã phát triển đến một giai đoạn mới, lực lượng chủ lực của ta đã lớn mạnh, đã tổ chức thành các trung đoàn và đại đoàn chủ lực đầu tiên là 308. Lúc này, tương quan lực lượng giữa 2 bên đã tương đối quân bình, ta đã có thể mở được những hoạt động tác chiến tầm cỡ chiến dịch. Cuộc kháng chiến đặt ra yêu cầu mới là ta phải giành thế chủ động trên chiến trường, chuyển sang giai đoạn tổng phản công, đẩy địch vào thế bị động phòng ngự.

Bản đồ khu vực tác chiến trong chiến dịch biên giới
Năm 1949 cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời. Chiến dịch Biên Giới 1950 mở ra với mục đích khai thông biên giới Việt - Trung để nối liền vùng giải phóng của ta với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của các nước Xã hội Chủ nghĩa cho cuộc kháng chiến của ta. Vì ý nghĩa đó, đây là một chiến dịch quan trọng phải đảm bảo chắc thắng.
Khoảng đầu tháng 6/1950, giặc Pháp bắt đầu củng cố và tăng cường cả về binh lực, hỏa lực và công sự trên toàn phòng tuyến Đường số 4. Bộ chỉ huy chiến dịch, đứng đầu là Đại tướng đã xác định phương châm tác chiến là đánh điểm - diệt viện, lấy tiêu diệt sinh lực địch ngoài công sự là chủ yếu. Nhưng đâu là “điểm đột phá” để khơi mào, tạo điều kiện để đánh viện binh địch?
Ban đầu, phía ta chủ trương đánh cứ điểm Cao Bằng. Từ đầu kháng chiến tới nay, quân ta chủ trương rút lực lượng khỏi các thành phố lớn, lấy nông thôn vây thành thị. Lần này, nếu đánh chiếm được một vị trí như Cao Bằng sẽ là một bước chuyển về chất, tạo nên một uy thế vang dội. Nhiều đơn vị đã được cử đi điều nghiên địa hình thị xã và chuẩn bị phương án tác chiến. Bản thân Đại tướng cũng trực tiếp đi nắm tình hình địch và nghiên cứu thực địa.
Trong hồi ký “Đường tới Điện Biên Phủ”, Đại tướng Tổng tư lệnh viết: “Lấy thị xã Cao Bằng làm điểm đột phá để mở đầu chiến dịch có phải là sự lựa chọn đúng không? Cao Bằng là một vị trí nằm sâu trong hậu phương ở phía bắc. Ở đây, địch có 2 tiểu đoàn. Nếu đánh thắng, ta sẽ giải phóng được một thị xã quan trọng ở biên giới, ảnh hưởng chính trị sẽ rất lớn. Nhưng bộ đội ta chưa hề đánh một vị trí 2 tiểu đoàn Âu-Phi. Cao Bằng như tôi đã biết, nằm giữa hai con sông, và có ngôi thành cổ rất vững chắc”.
Qua chuyến thị sát, Đại tướng nhận thấy, địa hình Cao Bằng dễ thủ mà khó công, ba mặt có sông bao quanh, mặt sau hiểm trở. Bản thân pháo đài Cao Bằng được xây hết sức kiên cố vững chắc, địa hình tiến đánh hết sức khó khăn. Kể cả ta tập trung binh lực tối đa cũng không dễ công hạ mà còn đứng trước nguy cơ bị tổn thất rất lớn. Đại tướng nhận định: “Đánh Cao Bằng sẽ thực sự là một trận công kiên lớn mà chúng ta còn chưa có kinh nghiệm”. Vì vậy, ông đã quyết đoán hủy bỏ phương án đánh Cao Bằng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thị sát thị xã Cao Bằng vừa được giải phóng (1950)
Ông khẳng định: “Trong tư tưởng của tôi từ trước, điểm đột phá trên chiến trường này phải là Đông Khê. Ở đây địch đóng 1 tiểu đoàn, nằm trong khả năng tiêu diệt của bộ đội ta. Mất Đông Khê, Cao Bằng sẽ trở nên hoàn toàn cô lập. Địch nhất định phải chiếm lại Đông Khê. Bộ đội ta sẽ có điều kiện tiêu diệt bộ binh địch trên địa hình rừng núi”. Phương án điều chỉnh, bỏ Cao Bằng, đánh Đông Khê của Đại tướng đã được Hồ Chủ tịch đã được thông qua..
Quyết định của Đại tướng là vô cùng sáng suốt, Ông đã chọn đúng khu vực tác chiến thuận lợi cho ta và bất lợi cho địch. Đó là khu vực Cao Bằng - Thất Khê nơi các cụm cứ điểm phòng ngự của địch chạy dọc đường số 4 là Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê. Đây là khu vực phòng ngự sơ hở cửa địch, song lại gần hậu phương kháng chiến của ta, có nhiều đường nối liền với Trung Quốc, tiện việc chỉ đạo và huy động nhân lực, vật lực.
Chủ lực ta có đủ khả năng công hạ được cứ điểm Đông Khê, quân Pháp ở Cao Bằng bị bao vây, cô lập tất phải bỏ thành chạy về Đông Khê, hợp với quân cứu viện ở Thất Khê và Lạng Sơn lên đoạt lại bằng được cứ điểm này. Khi đó, quân ta có thể ung dung, “chủ” động đưa các vị “khách” này vào thế trận phục kích diệt viện, lúc đó ta không những lấy được Đông Khê, Thất Khê mà còn cả Cao Bằng, thậm chí nếu biết chớp thời cơ thì có thể giải phóng toàn bộ dải biên giới.
Còn nếu quyết định chọn Cao Bằng, có thể ta vẫn hạ được thị xã này nhưng sẽ phải trả giá rất đắt. Vượt qua được thế trận phòng thủ vững chắc của 2 tiểu đoàn Âu-Phi thì quân ta cũng không còn đủ sức đánh chiếm các cứ điểm khác, không có khả năng khuếch trương chiến quả, cuối cùng cũng bị cô lập trong vòng vây của quân địch. Như vậy, ta đã từ thế chủ động tiến công trở thành phòng ngự bị động, tức là đang từ “Chủ” chuyển thành “Khách”.
Chiến dịch Biên giới của ta có nét giống trận công hạ thành Nam An của Gia Cát Khổng Minh trong Tam Quốc Diễn Nghĩa. Thành Nam An kiên cố, dễ thủ khó công, nếu Khổng Minh dốc toàn lực để đánh thành thì chưa chắc đã hạ được mà còn bị quân tiếp viện ở 2 quận An Định và Thiên Thủy tiến đánh. Vì vậy, ông quyết định không tấn công mà dùng kế nhử quân tiếp viện ở 2 nơi đến để phục kích diệt viện, cuối cùng cũng hạ được thành Nam An và cả 2 quận Thiên Thủy và An Định mà không hao tổn bao nhiêu quân sĩ. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng - Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và
Phó thủ tướng Phạm Văn Đồng sau phiên họp tổng kết chiến dịch Biên giới 1950
Sự so sánh nào cũng có điều khập khiễng. Tuy tình huống của 2 trận đánh này khác nhau, các biện pháp xử lý cụ thể cũng có sự khác biệt nhưng tư tưởng chỉ đạo tương tự như nhau là không đánh điểm phòng ngự kiên cố mà tập trung đánh chỗ yếu, diệt quân tiếp viện, phá thế ỷ dốc khiến cho địch trong căn cứ lớn buộc phải bỏ chạy, chiếm được thành mà không hao quân tổn tướng. Có thể nói, đây chính là sự đồng điệu của những tư duy quân sự thiên tài.
Thực tế chiến sự sau đó đã diễn ra hoàn toàn theo suy tính của Đại tướng. Ngày 16/9/1950, chiến dịch Biên Giới chính thức bắt đầu với trận tấn công đồn Đông Khê. Sau khi Đông Khê thất thủ, cứ điểm mạnh Cao Bằng bị cô lập và uy hiếp khiến quân Pháp buộc phải bỏ Cao Bằng chạy về Đông Khê, đồng thời cũng cử một binh đoàn từ Thất Khê lên tái chiếm cứ điểm này và rơi vào thế trận “diệt viện” của quân ta bố trí dọc đường số 4. Một cánh quân khác của Pháp lên ứng cứu cho địch đi từ phía Lạng Sơn cũng rơi vào tình cảnh tương tự.
Kết thúc toàn chiến dịch, quân ta có khoảng vài trăm bộ đội bị hy sinh. Phía Pháp, ngoài số bị tiêu diệt gồm 2 binh đoàn Âu-Phi và vài tiểu đoạn độc lập, số tù binh lên tới 8.000 quân, đông chưa từng có kể từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến. Quân ta còn thu được hàng ngàn tấn chiến lợi phẩm, đủ trang bị cho các sư đoàn chủ lực mới được thành lập. Thậm chí, số đạn pháo thu được sau chiến dịch còn dùng để cung cấp cho chiến trường Triều Tiên và cả chiến dịch Điện Biên Phủ sau này.
Nhưng quan trọng hơn cả, là tuyến biên giới Việt - Trung được khai thông, phá thế bao vây căn cứ địa Việt Bắc với các nước bè bạn trên thế giới. Thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới mở ra một bước ngoặt chuyển cuộc kháng chiến của ta từ hình thái chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích ở trình độ cao hơn. Đồng thời, nó cũng là nguyên nhân trực tiếp giúp cuộc kháng chiến của ta chuyển hóa sang giai đoạn Tổng phản công.
Thành quả này có được, công lao lớn nhất là do tư duy quân sự sắc sảo, linh hoạt và thiên bẩm của vị Đại tướng chưa một ngày học qua trường lớp võ bị nào!

Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 30 Tháng 1 2019 16:26 )
 

Người lính quân hàm xanh canh gác mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Email In PDF.
Một ngày cuối tháng 12, nhân Lễ kỷ niệm 74 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2018) và 29 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 – 22/12/2018), chúng tôi về với Vũng Chùa – Đảo Yến thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp yên nghỉ, thành kính dâng nén nhang thơm.
  
Từ ngày Đại tướng Võ Nguyên Giáp về yên nghỉ tại Vũng Chùa – Đảo Yến, đã có khoảng hơn 6 triệu lượt người đến viếng.
Giữa cái lạnh se sắt của những ngày đầu đông, cựu binh Trần Văn Định, ngoài 70 tuổi, vất vả đi xe từ miền Nam xa xôi ra viếng mộ Đại tướng, xúc động chia sẻ: “Đây là lần thứ 2 tôi ra Quảng Bình viếng mộ Đại tướng nhưng cái cảm giác, cảm xúc cồn cào, tiếc thương vô hạn như cái lúc mới biết tin Người từ trần”.
Hơn 5 năm qua, từ ngày Đại tướng về an nghỉ tại Vũng Chùa – Đảo Yến, có lẽ những người lính quân hàm xanh là những chiến sĩ có những đóng góp, hy sinh thầm lặng nhất để canh giữ giấc ngủ ngàn thu cho Người.
Trò chuyện với chúng tôi, Thiếu tá Nguyễn Mạnh Dũng, cán bộ Đội bảo vệ mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp chia sẻ: “Tất cả 24/24 giờ trong ngày, anh em cán bộ, chiến sĩ của Đội vừa làm việc để giữ gìn cho khu mộ luôn bảo đảm sự trang nghiêm, vừa tạo điều kiện thuận lợi để người dân được bày tỏ lòng thành kính của mình dành cho Đại tướng.
Có những đoàn cựu chiến binh vượt cả đoạn đường xa ngái để đến viếng Bác, cũng có những người đã từng một thời mang áo lính một mình tới đây chỉ để ngồi bên Bác một lát thôi. Những đoàn người ấy, những hình ảnh ấy đã làm cho chúng tôi cảm thấy rất hạnh phúc khi được nhận nhiệm vụ canh giấc ngủ cho Người”.

Những chiến sĩ Đội bảo vệ mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn từng đoàn khách lên viếng mộ Người.
Đội bảo vệ mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp có 30 cán bộ chiến sĩ, họ đều xác định đây là niềm vinh dự, cũng là trách nhiệm cao cả mà Đảng và nhân dân tin tưởng giao phó.
 
Những lúc thưa khách đến viếng, các chiến sĩ lại quét dọn, nhặt rác ở con đường dẫn lên mộ Người.
Thượng Tá Phạm Minh Dũng – Đồn trưởng Đồn Biên phòng Roòn tâm sự: “Cán bộ chiến sĩ Bộ đội Biên phòng (BĐBP) Quảng Bình vinh dự được Bộ Quốc phòng, Cấp ủy - chính quyền địa phương và gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp tin tưởng giao cho công tác phục vụ, bảo vệ lễ an táng Đại tướng. Với niềm kính phục, tri ân và bằng cả tấm lòng chân thành, vinh dự và trách nhiệm với Đại tướng và nhân dân cả nước, BĐBP đã cố gắng hết sức mình, không quản ngại ngày đêm, trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, mưa gió sau bão, địa tầng đất đá... đã cùng với các lực lượng và gia đình cùng chuẩn bị nơi an nghỉ chu đáo, phục vụ tận tình trong quá trình tang lễ và bảo vệ an toàn tuyệt đối lễ Quốc tang của Đại tướng.
Sau lễ Quốc tang, BĐBP Quảng Bình được Bộ Quốc Phòng, Đảng ủy Bộ Tư lệnh BĐBP giao nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đối, an toàn khu mộ, giữ yên giấc ngủ ngàn thu cho Đại tướng; tổ chức đón tiếp, hướng dẫn chu đáo, tận tình cho nhân dân, kiều bào ta ở nước ngoài và khách quốc tế đến thăm viếng. Ngay sau đó, Đội bảo vệ khu mộ Đại tướng được thành lập, trực thuộc Đồn Biên phòng Roòn, đó là may mắn của chúng tôi khi được đứng bên, canh giấc ngủ ngàn thu cho người anh hùng của dân tộc – Đại tướng Võ Nguyên Giáp”.
Khánh Linh - Đặng Tài - Theo Dân trí
 
Trang 1 trong tổng số 108 trang.
Bạn đang ở: Trang chủ