Lịch âm dương

Xem tin theo ngày

< Tháng 12 2018 >
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1009
mod_vvisit_counterHôm qua1176
mod_vvisit_counterTuần này1009
mod_vvisit_counterTuần trước8765
mod_vvisit_counterTháng này17398
mod_vvisit_counterTháng trước78419
mod_vvisit_counterTất cả4865353

Có: 13 khách trực tuyến

Tin tức - Sự kiện

Nhớ mãi trận Phù Trịch

Email In PDF.
(QBĐT) -  Tôi vốn là chiến sĩ trinh sát Tiểu đoàn 418, Trung đoàn 57 (Liên khu 4) đã từng cùng đơn vị tham gia trận đánh giặc Pháp tại bến đò Phù Trịch năm 1950. Câu chuyện trôi qua đã 63 năm. Đó là những năm tháng hào hùng của thời kỳ quân dân Quảng Bình kiên cường chống Pháp, trong chiến dịch Lê Lai.
Lúc đó tôi mới tuổi thiếu niên, do sớm giác ngộ đã tình nguyện vào bộ đội vệ quốc quân. Tôi được Huyện đội Quảng Trạch điều sang làm trinh sát cho Tiểu đoàn 418, Trung đoàn 57. Nhiệm vụ của một trinh sát là mặc thường phục, trà trộn trong dân, nắm tình hình địch để báo cáo với đơn vị. Địa bàn trinh sát của tôi được cấp trên phân công theo dõi khu vực các đồn Minh Lệ, Tiên Lệ, Ba Đồn và các vùng phụ cận Nam Quảng Trạch tuyến dọc sông Gianh.
Vào thời kỳ này, giặc Pháp chiếm đóng khá nhiều vị trí xung yếu. Ngoài các đồn lớn có nhiều quân Pháp được trang bị vũ khí hiện đại, chúng còn có các đồn hương vệ như Hòa Ninh, Phù Kinh, Hướng Phương, Đơn Sa... Bọn giặc mở nhiều trận càn, khủng bố, đốt phá gây bao tội ác tày trời cho nhân dân ta. Quảng Trạch thời kỳ đó là nơi tiếp giáp giữa vùng địch hậu và vùng căn cứ du kích , vùng tự do Thanh-Nghệ Tĩnh. Giặc Pháp chốt giữ ở đây một lực lượng hùng hậu gồm bọn com-măng-đô ở Ba Đồn, Tiên Lệ; bọn bảo vệ quân và hàng loạt đồn hương vệ ở Đơn Sa, Hướng Phương, Hòa Ninh, Phù Kinh... hệ thống hội tề dày đặc, lực lượng gián điệp, mật vụ rất đông.
Đứng trước tình hình này, cấp trên đã bố trí tiểu đoàn 418 vào tăng cường cho Quảng Bình. Tiểu đoàn đóng ở Thuận Bài, lấy nhà ông Ba Trung ở xóm Cồn làm trụ sở ban chỉ huy tiểu đoàn. Tiểu đoàn trưởng là đồng chí Nguyễn Cận; Chính trị viên tiểu đoàn là đồng chí Quách Sĩ Kha. Tiểu đoàn còn có cả các đồng chí tiền phương của Trung đoàn 57. (Trung đoàn 57 thuộc tỉnh Nghệ An có 3 tiểu đoàn: D 265 chốt ở Mường Xén; D 346 tham gia chiến đấu ở địa bàn Bố Trạch; D 418 được điều vào cuối năm 1949 để chuẩn bị tham gia chiến đấu khi Quảng Bình mở chiến dịch Lê Lai được chốt ở Quảng Trạch).
Chiều ngày 26-2-1950, trên đường vượt sông sang Minh Lệ, ta được tin báo của các đồng chí trinh sát: Ngày mai kẻ địch sẽ càn vùng nam Quảng Trạch. Lực lượng huy động của chúng có thể trên 1 trung đoàn. Giặc huy động quân từ các đồn Hòa Luật (Lệ Thủy); Mỹ Trung (Quảng Ninh); Lý Hòa, Hoàn Lão, Thanh khê (Bố Trạch). Nhận được tin trên các đồng chí chỉ huy tiểu đoàn bàn ngay phương án tác chiến mới. Để chủ động đánh bất ngờ khi kẻ địch vừa đổ bộ lên bờ và nghi binh lừa địch vào ổ phục kích của ta, tiểu đoàn đã bài binh bố trận như sau: đại đội 54 đảm trách nhiệm vụ đánh chính diện; tăng cường cho trung đội 21 đủ mạnh bố trí sát bờ để vỗ mặt địch từ đầu. Đại đội 59 được điều đến Vĩnh Phước nhằm đánh chặn quân địch từ Tiên Lệ.
Đại đội 60 vừa làm nhiệm vụ dự bị chiến thuật vừa là đơn vị sẵn sàng phối hợp với đại đội 54 đánh địch khi địch lọt vào ổ phục kích của ta. Ngoài ra còn có đại đội 365 của Huyện đội Quảng Trạch tham gia đánh chặn viện binh của giặc từ đồn Minh Lệ.
Tất cả tiểu đoàn được phổ biến nhanh ý đồ tác chiến, ai cũng hồi hộp nóng lòng chờ địch tới. Nỗi căm thù kẻ địch xâm lăng được biến thành hành động. Cán bộ chiến sĩ của ta ai cũng xung phong được cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh. Điều cảm động nhất là sự anh dũng kiên cường của tiểu đội 15 khi nhận nhiệm vụ cảm tử ở lại bám trụ tại trận địa.
Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 27-2-1950, địch kéo đến sông Gianh, đoạn Phù Trịch và Hói Hác bằng ca nô, phà, thuyền. Chúng dùng hỏa lực mạnh uy hiếp sau đó ồ ạt đổ bộ lên bờ Phú Trịch. Cả khúc sông vốn thanh bình giờ đã trở thành chiến trường.
Lúc này mooc chê, trung liên, tiểu liên địch bắn như điên dại vào lùm tre, bụi dứa ven sông vì nghi có quân ta ẩn nấp. Mười chiến sĩ tiểu đội 15 đã cảm tử ở lại chiến đấu. Phút giây lịch sử ấy cả tiểu đội 15 đã viết lên trang sử hào hùng. Một đơn vị vẻn vẹn có 10 chiến sĩ bằng phương tiện vũ khí thô sơ đã dũng cảm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng với hàng trăm quân giặc với vũ khí hiện đại. Các đồng chí của ta đã thực hiện thành công ý chiến thuật của trận đánh.  Lần lượt, từng đồng chí chiến sĩ tiểu đội 15 của ta hy sinh. “Cả tiểu đội , từng người lần lượt ngã.
Tám...chín...mười...màu xanh lên ánh đỏ
Hết sức rồi! Hồ Chủ tịch muôn năm
Nắng mênh mông nắng ngập cả dòng sông
Bờ Phù Trịch: mồ chôn quân cảm tử!”
(Trích thơ Xuân Hoàng)
Lầm tưởng quân ta đã bị tiêu diệt hết, bọn giặc đuổi theo. Khi quân địch đã lọt vào ổ phục kích, quân ta đồng loạt nổ súng. Lúc này hỏa lực của ta đủ điều kiện tập trung diệt gọn số quân địch có mặt tại ổ phục kích. Bị đánh đòn bất ngờ, bọn chúng không ngóc đầu lên được. Lưới lửa của hỏa lực tổng hợp từ đại liên, trung liên, tiểu liên đến lựu đạn, đại đao, lưỡi lê, súng nhẹ...gây cho quân thù thương vong rất lớn. Xác địch chết chất thành đống.
Thừa thắng xông lên, quân ta tiếp tục truy kích giặc dọc bờ sông Gianh đến Hói Hác. Sau trận chiến đấu quyết liệt với tinh thần mưu trí dũng cảm. Tiểu đoàn 418 đã viết lên lịch sử hào hùng tại bến đò Phù Trịch: diệt gọn 300 giặc Pháp, lính lê dương, 200 tên hương vệ, khố đỏ; thu 100 súng đại liên, trung liên, tiểu liên; 45 súng lục; 300 súng trường cùng nhiều chiến lợi phẩm khác.
Trận chống càn oanh liệt diễn ra tại Phù Trịch mùa xuân 1950 được xem là một trong những chiến thắng quan trọng của tiểu đoàn 418 thời kỳ chống Pháp. Trận đánh thể hiện nghệ thuật quân sự: lấy yếu thắng mạnh, lấy ít địch nhiều, đặc biệt khả năng đánh giặc trên sông biển của quân ta. Chiến thắng này mở ra bước ngoặt mới trong lịch sử kháng chiến chống Pháp tại huyện Quảng Trạch nói riêng, Quảng Bình nói chung. Từ sự kiện này, vùng giải phóng của ta được mở rộng, vùng địch hậu bị thu hẹp, buộc địch phải rút bỏ đồn Tiên Lệ, Minh Lệ co cụm về Thanh Khê, Ba Đồn. Trong bối cảnh đó, Quảng Trạch có điều kiện xây dựng thế trận phát triển lực lượng cách mạng, từ đây tuyến tiếp tế của trung ương cho chiến trường Bình Trị Thiên thuận lợi hơn trước.
Đã hơn 63 năm trôi qua nhưng chiến công của Tiểu đoàn 418, đặc biệt là sự hy sinh của tiểu đội 15 vẫn sống mãi với non sông đất nước. Kể lại câu chuyện lịch sử này, thể theo nguyện vọng của nhân dân vùng Nam Quảng Trạch, chúng tôi xin được đề xuất với các ngành hữu quan: xem xét truy tặng danh hiệu anh hùng cho 10 chiến sĩ tiểu đội 15 bất tử và có quy hoạch xây dựng tượng đài chiến thắng hoặc nhà bia tưởng niệm liệt sĩ ở Phù Trịch.
(Ghi theo lời kể của cụ Nguyễn Hoàng, 80 tuổi, ở thôn 4, xã Lộc Ninh, thành phố  Đồng Hới, nguyên là chiến sĩ trinh sát Tiểu đoàn 418) 
Thanh Bình 
Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 15 Tháng 5 2017 13:02 )
 

Theo dòng lịch sử: trận chiến thắng Phù Trịch - La Hà

Email In PDF.
(QBĐT) - Di tích lịch sử Trận chiến thắng Phù Trịch-La Hà nằm ở cuối thôn Phù Trịch, thuộc xã Quảng Lộc, thị xã Ba Đồn.
Di tích ghi dấu chiến thắng của quân và dân ta trong trận chống càn ngày 27-2-1950, tiêu biểu là Tiểu đoàn 418, Trung đoàn 57 và Bộ đội địa phương 365 cùng dân quân, du kích  các xã vùng Nam Quảng Trạch, đặc biệt là gương hi sinh anh dũng, chiến đấu cảm tử đến người cuối cùng của Tiểu đội 15 thuộc Trung đội 21, Đại đội 54, Trung đoàn 57 cầm chân địch để bộ đội ta rút về tuyến sau an toàn.
Quảng Trạch nằm giữa vùng địch hậu, vùng căn cứ du kích và vùng tự do Thanh-Nghệ-Tĩnh. Nơi đây có số lượng đồng bào theo đạo thiên chúa đông nhất Quảng Bình và đây cũng là nơi mà giặc Pháp đã chốt một  phòng tuyến kiên cố, gồm cả 3 lực lượng: lính com-măng-dô ở Ba Đồn và Tiên Lệ, bọn bảo vệ quân và hàng loạt đồn hương vệ đóng theo tuyến công giáo Đơn Sa, Hướng Phương, Hòa Ninh, Phù Kinh.... và một hệ thống hội tề dày đặc, lực lượng mật vụ, gián điệp khá đông.
Trong chiến dịch Lê Lai, Tiểu đoàn 418 cùng với bộ đội địa phương 365 và dân quân du kích trên địa bàn huyện Quảng Trạch đã chiến đấu anh dũng, đập tan nhiều hệ thống đồn bốt, hương vệ và liên tục đánh nhiều trận nhằm bao vây uy hiếp các đồn Ba Đồn, Tiên Lệ, Minh Lệ, chặn đánh ca nô địch hoạt động trên sông Gianh.
Ảnh minh họa
Xác định hai thôn Phù Trịch, La Hà có vị trí chiến lược trọng yếu, nó như là một hòn đảo án ngữ toàn bộ hướng Đông của vùng Nam Quảng Trạch, giặc Pháp muốn tấn công lên các xã vùng Nam đều phải dùng ca nô từ đồn Thanh Khê theo sông qua hai thôn.
Vì vậy, trước khi diễn ra trận đánh, Tiểu đoàn 418 triển khai cho quân vượt sông sang chiếm lĩnh trận địa. Tại Phù Trịch, Đại đội 54 là đơn vị chủ công đánh mũi chính diện, Trung đội 21 được bố trí sát bờ hói Hác để đánh vỗ mặt địch. Đại đội 60 là lực lượng dự bị nhưng phải sẵn sàng cùng với Đại đội 54 hợp đồng tác chiến đánh địch, khi địch lọt vào ổ phục kích của ta.
Tại Vĩnh Phước, ta bố trí Đại đội 59 đánh chặn viện quân từ Tiên Lệ tới. Lực lượng bố trí là như vậy, nhưng khi có biến động thì tùy tình hình cụ thể để có phương án đánh địch thích hợp. Nếu quân địch đổ bộ vào trận địa bằng đường sông thì chỉ để lại 1 trung đội làm nhiệm vụ chặn quân ứng viện. Lực lượng trinh sát của tiểu đoàn có nhiệm vụ cảnh giới, theo dõi tuyến sông Gianh đề phòng địch chuyển hướng đổ bộ ở bến khác, chủ động diệt địch khi chúng mới lên bờ.
Để trấn an tinh thần quân lính và tái chiếm địa bàn bị mất, tiêu diệt sinh lực của ta, địch mở trận càn lớn lên vùng  Phù Trịch-La Hà và vùng đất “ngã ba sông Gianh” - nơi có địa thế thuận lợi, với hy vọng sau khi chiếm được La Hà-Phú Trịch, quân địch có thế mở cuộc hành quân càn quét cả vùng Nam Quảng Trạch.
Do nắm được kế hoạch của địch, nên ngay từ tối 26-2-1950, các cánh quân của ta triển khai lực lượng chuẩn bị chống càn. Cánh quân ở xóm Nam Minh Lệ được giao nhiệm vụ chặn đánh địch, nếu chúng càn lên nguồn Son, đồng thời chặn quân Pháp từ đồn Minh Lệ về. Cánh quân thứ 2 bố trí về làng Phù Trịch, đào công sự sẵn sàng nghênh chiến giặc khi chúng đổ bộ lên càn theo hướng nguồn Nậy sông Gianh. Hậu quân đang đóng ở các vị trí như Văn Thánh, điện, miếu đầu làng Vĩnh Lộc được lệnh tiến vào làng đợi lệnh.
Rộn ràng ngày mới trên sông Gianh (đoạn phà Phù Trịch cũ). Ảnh: Lê Thanh Thu (TDP 1, phường Ba Đồn)
Tám giờ sáng ngày 27-2-1950, quân địch bắt đầu mở chiến dịch càn quét. Trước khi tiến vào Phù Trịch - La Hà, quân địch đã huy động đại bác, ca nông từ Thanh Khê, Ba Đồn bắn lên các làng để mở đường cho quân đổ bộ. Sau những đợt pháo kích dữ dội, toàn bộ số quân từ đồn Thuận Bài được đưa lên thuyền qua sông, tiến vào đuồi Văn Phú (La Hà).
Mũi từ Thanh Khê với đoàn ca nô lớn nhỏ chở đầy quân lính, súng đạn cũng đổ quân xuống đuồi Văn Phú. Quân địch dàn quân ra cả trên bộ lẫn dưới sông, sau đó xua quân lướt nhanh qua cánh đồng La Hà, phá hàng rào tiến vào xóm Đông (Quảng Văn). Chúng đốt nhà, cướp phá, lùa dân ra làm bia đỡ đạn.
Tám giờ sáng ngày 27-2-1950, quân ta đã bí mật bố trí lực lượng, chủ động tấn công khi ca nô, thuyền của địch chuẩn bị vượt sông sang đuồi Phù Trịch. Do chênh lệch lực lượng, tuy bị quân ta chủ động tấn công nhưng sau khi chấn chỉnh lại lực lượng, địch vẫn lệnh cho ca nô, thuyền tiến vào bờ. Các trung đội xung kích sau nhiều lần đẩy lùi bước tiến của địch, theo mệnh lệnh chiến đấu, 2 Tiểu đội 13 và 18 được lệnh rút lui, tiểu đội 15 ở lại cầm cự giữ trận địa.
Trong khoảnh khắc, toàn bộ chiến sĩ tiểu đội 15 cảm tử, từng người một lần lượt hy sinh. Quân địch tràn lên cánh đồng thôn Phù Trịch nhả đạn và tiến vào làng. Để chống trả sự phản công của bộ đội ta, địch đã chiếm một giếng xây giữa đồng làm công sự (cái giếng nay vẫn còn), đặt đại liên, súng máy khống chế cả một vùng.
Từ Ba Đồn, địch cho 2 thuyền chở đầy quân lính vượt sông, đổ bộ lên làng Phù Trịch đánh tập hậu, chặn đường tiến quân của quân ta. Với ý đồ tiêu diệt toàn bộ quân ta đang được bố trí từ cuối làng đến vùng Tam tòa, Tứ miếu giáp lùm sác đuồi Phù Trịch, địch đã bố trí một lực lượng mạnh để tiêu diệt. Được lệnh, 5 chiến sĩ đi theo đường vòng, có sự yểm trợ hỏa lực của các phân đội, đã tiến đánh điểm chốt, tiêu diệt được tên chỉ huy Pháp. Bí mật, bất ngờ, bộ đội ta thừa thắng xông lên tấn công ồ ạt, tiếng hô xung phong vang lên khắp trận địa, trong làng tiếng trống, tiếng mõ của nhân dân hò reo, thôi thúc quân ta xông lên tiêu diệt hết quân thù.
Quân địch rối loạn đạp lên xác nhau, quay đầu bỏ chạy tán loạn. Chúng phải gọi pháo, ca nông từ Ba Đồn, Thanh Khê, Minh Lệ bắn yểm trợ cho cuộc tháo chạy. Do mắc vào bãi bồi lầy lội, lại bị bộ đội ta dũng mãnh truy kích nên ca nô, thuyền của địch không vào gần bờ được. Chúng nhảy xuống sông, dẫm đạp, giành nhau trèo lên ca nô, lên thuyền, những tên không lên được thuyền, ca nô phải cởi bỏ áo quần nhảy xuống sông bơi sang làng La Hà để thoát thân.
Trận địa im tiếng súng lúc 13 giờ ngày 27-2-1950, quân ta đã tiêu diệt 120 tên địch, bắt sống 10 tù binh,  phá hủy và làm hư hỏng nặng 4 ca nô; số quân lính còn sống sót hoảng loạn tháo chạy về Thanh Khê, bỏ lại hàng trăm súng các loại; ta thu 100 súng đại liên, trung liên, tiểu liên, 300 súng trường, 45 súng ngắn và nhiều quân trang, quân dụng khác. Về phía ta, Trung đoàn 57 có 33 chiến sĩ hy sinh. Đây là một tổn thất lớn đối với Trung đoàn 57 nói riêng, quân và dân Quảng Bình nói chung. Máu các anh đã nhuộm đỏ quê hương.
Các anh đã yên nghỉ trong lòng đất mẹ vùng  Nam Quảng Trạch. Tại Nghĩa trang liệt sĩ xã Quảng Lộc, 33 liệt sĩ không có tên, trên tấm bia mộ chỉ khắc chung dòng chữ E57 (Trung đoàn 57), ngày hy sinh 27-2-1950. Ba mươi ba chiến sĩ nằm tại nghĩa trang Quảng Lộc đều cùng chung một cái tên “Vô danh” và cùng chung ngày mất. Tất cả 33 chiến sĩ này đều quê ở Hà Tĩnh, Nghệ An. Các anh đã nằm lại trên mảnh đất này đã 65 năm, nhưng đến nay chúng ta cũng chỉ mới tìm được danh xưng của  5 liệt sĩ.
Chiến thắng Phù Trịch-La Hà là trận chống càn có ý nghĩa chiến lược vô cùng to lớn, ta đã chủ động đánh bất ngờ và đã tiêu diệt một lực lượng sinh lực quan trọng của địch, phá tan âm mưu mở rộng vùng tạm chiếm và đánh bại ý đồ củng cố lại các phòng tuyến đã bị ta phá nát, cô lập các vị trí đồn bốt của địch.
Vùng giải phóng của ta được mở rộng, vùng du kích phát triển, hệ thống hội tề của ngụy quyền bị giải tán, thay thế vào đó là chính quyền và các tổ chức cách mạng. Quảng Trạch đã thoát khỏi cảnh o ép của giặc, xây dựng được thế trận và phát triển du kích bám sát đồn địch. Từ đây tuyến tiếp tế của Trung ương cho chiến trường Bình-Trị-Thiên được thuận lợi hơn trước.
Chiến thắng Phù Trịch- La Hà là một đột phá lớn, tạo lòng tin vững chắc vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta và tạo tiền đề để tấn công các đồn bốt lớn của địch trên bờ Bắc - Nam sông Gianh, động viên mọi lực lương hăng hái tham gia các chiến dịch đánh địch mới, góp phần cùng quân dân cả nước đi đến chiến thắng Điện Biên Phủ, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Trận chiến thắng Phù Trịch-La Hà không những ghi đậm trang sử truyền thống của Trung đoàn 57, Tiểu đoàn 418 anh hùng, của bộ đội chủ lực, mà còn là niềm tự hào của nhân dân Quảng Bình. Đặc biệt, sự hy sinh cao cả, cảm tử của tiểu đội 15 mãi mãi là truyền thống của Quân đội ta chiến đấu hi sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
Di tích Trận chiến thắng Phù Trịch-La Hà đã đi vào lịch sử thơ ca, là nơi để giáo dục truyền thống cho các thế hệ hôm nay và mai sau về sự anh dũng hy sinh, lòng quả cảm, cảm tử cho tổ quốc khi bị ngoại bang xâm lấn, giáo dục truyền thống yêu quê hương, khẳng định chân lí không có gì quý hơn độc lập tự do. Với nội dung lịch sử, giá trị giáo dục truyền thống của di tích, ngày 11 tháng 11 năm 2015, UBND tỉnh Quảng Bình đã ra quyết định số 3213 xếp hạng Trận chiến thắng Phù Trịch-La Hà là di tích cấp tỉnh.
Đây là vinh dự, là niềm tự hào cho lực lượng vũ trang Quảng Bình nói chung, nhân dân hai xã Quảng Văn, Quảng Lộc (thị xã Ba Đồn) nói riêng. Bến đò Phù Trịch, cửa Hác nay đã được thay thế bằng cây cầu vững chãi (cầu Quảng Hải). Nhưng mỗi lần trở lại nơi đây lòng tôi không khỏi bồi hồi nhớ tới 10 chiến sĩ quả cảm của Tiểu đội 15 năm xưa đã anh dũng hy sinh cho trận chiến cuối cùng qua câu thơ của cố nhà thơ Xuân Hoàng:
“Nắng mênh mông nắng ngập cả bờ sông
Bờ Phù Trịch: mồ chôn đoàn cảm tử”.
Tạ Tiến Hùng - (Ban Quản lý Di tích Quảng Bình) 
Lần cập nhật cuối ( Thứ năm, 11 Tháng 5 2017 15:51 )
 

Quảng Bình xây khu lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Email In PDF.
TTO - UBND tỉnh Quảng Bình cho biết dự án khu lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp sẽ được xây dựng từ năm 2018 tại quê nhà của Đại tướng (thôn An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy).
Nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp hiện nay ở quê nhà Lệ Thủy - Ảnh: L.Giang
Tổng diện tích khu lưu niệm là 3,5ha, được phân thành hai khu vực, với các công trình chính như khuôn viên, nhà lưu niệm, nhà trưng bày không gian làng quê Lệ Thủy xưa, bãi đỗ xe, đường dạo, các công trình phụ trợ khác... Tổng mức đầu tư dự kiến 45 tỉ đồng.
Hiện tại ở đây có một căn nhà lưu niệm là công trình nhà ở từ ngày xưa (đã vài lần được sửa chữa lại theo nguyên mẫu) của gia đình Đại tướng.
Kiểu kiến trúc được lựa chọn xây dựng là nhà mái ngói truyền thống của người Việt mang nét cổ của nhà vùng thôn quê Lệ Thủy.
Nhà lưu niệm Đại tướng Võ Nguyên Giáp hiện nay ở quê nhà Lệ Thủy - Ảnh: L.Giang
Khu lưu niệm Đại tướng ở quê nhà Lệ Thủy sẽ nằm trong tổng thể các công trình liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Đại tướng, cùng với khu mộ Đại tướng ở vũng Chùa - đảo Yến (xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch).
Đây cũng là nơi diễn ra các hoạt động như trình chiếu phim tư liệu lịch sử, cách mạng có liên quan đến Đại tướng…
L.GIANG 
Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 10 Tháng 5 2017 17:39 )
 

Liệt nửa người vẫn mở thư viện sách và kêu gọi từ thiện

Email In PDF.
Năm 19 tuổi, hậu quả tai nạn mỏ đá khiến Khoa bị liệt nửa người. Đối diện bệnh tật, đã có lúc Khoa nghĩ đến cái chết. Nhưng trong lúc khó khăn nhất, anh đã gượng dậy và làm nhiều việc có ích cho đời.
1- Ước nguyện hiến xác cho y học
Mai Tư Khoa (SN 1979), trú xã Quảng Trường, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình sinh ra là một người lành lặn. Năm 19 tuổi, Khoa xin vào làm công nhân khai thác đá cho một nhà máy xi măng đóng trên địa bàn, với mong muốn có thêm thu nhập giúp đỡ gia đình. Vào buổi chiều định mệnh 3/6/1998, Khoa gặp tai nạn lở đá, bị gãy 2 đốt xương sống và liệt nửa người dưới. Những tháng ngày còn lại của mình, Khoa vĩnh viễn làm bạn với chiếc giường và 4 bức tường.
Ông Mai Như Phận (SN 1958, bố Khoa) rưng rưng nhớ lại: “Để cứu lấy đôi chân của Khoa, vợ chồng tôi đã tìm đến không biết bao nhiêu bệnh viện, thầy thuốc chữa trị, nhưng không được”.
Mặc dù liệt nửa người nhưng Mai Tư Khoa là tấm gương về nghị lực vươn lên trong cuộc sống
Cứ mỗi lần nói về con, đôi mắt bà Nguyễn Thị Ngành (mẹ Khoa) lại đỏ hoe: “Nỗi đau về thể xác lẫn tinh thần khiến Khoa suy sụp đi nhiều. Có lúc tôi sợ con nghĩ quẩn, phải cất hết những đồ dùng nguy hiểm, thường xuyên bên giường bệnh để trông chừng và an ủi con”.
Từ ngày Khoa bị tai nạn đến nay đã gần 19 năm. Trong khoảng thời gian từ năm 2007 – 2009, những cơn đau co rút thần kinh cứ kéo dài triền miên, bất cứ thuốc giảm đau nào dù uống hay tiêm cũng không có tác dụng với anh. Nghĩ rằng mình không còn cơ hội để sống, Khoa quyết định hiến toàn bộ thân thể cho y học.
“Lúc đó tôi nghĩ đời mình chỉ còn hiến xác cho y học là việc làm có ích nhất cho đời, cho mọi người. Thân thể tôi, các bác sĩ có thể dùng để nghiên cứu về bệnh liệt nửa người, các bộ phận khác có thể cứu sống được cho nhiều bệnh nhân đang cần đến”.
2- Mở thư viện sách để kêu gọi từ thiện
Trong thời gian vật lộn với bệnh tật, nằm một chỗ bên giường bệnh, Khoa chỉ biết làm bạn với những cuốn sách, radio rồi tivi và sau này là điện thoại, máy tính. Cũng nhờ đọc nhiều sách, báo... mà Khoa nhận ra, cuộc sống này còn rất nhiều người có số phận như mình, trong đó có những người dù mang trọng bệnh nhưng vẫn nỗ lực vươn lên để sống có ích.
Với ý nghĩ tích cực đó, sau thời gian dài ấp ủ, vào năm 2010, từ những sách báo Khoa có, cùng với số tiền tích góp được để mua sách, anh đã biến căn phòng của mình thành thư viện tại gia miễn phí cho trẻ em nghèo. Mỗi ngày, nơi đây thu hút hàng chục học sinh đến đọc và mượn sách.
Thư viện mini của Khoa đã thu hút rất nhiều học sinh đến đọc và mượn sách.
Để thư viện của mình có nhiều sách hơn, Khoa đã miệt mài lên mạng tìm hiểu, kêu gọi sự giúp đỡ của các tấm lòng thiện nguyện. Anh đã nhận được rất nhiều sự ủng hộ của các tổ chức, cá nhân trên khắp mọi miền đất nước. Họ gửi sách và cả kinh phí để anh thực hiện ước nguyện của mình, nhờ vậy Mai Tư Khoa đã có thêm 10 tủ sách để đặt tại các lớp học của trường tiểu học và THCS Quảng Trường cho học sinh sử dụng.
Không chỉ dừng lại ở đó, Khoa còn lên mạng xã hội kêu gọi, quyên góp tiền và vật chất để hỗ trợ các em học sinh nghèo, có hoàn cảnh khó khăn và người già neo đơn. Từ năm học 2013 đến nay, với nguồn quyên góp được, Khoa đã hỗ trợ học phí, sách vở và quần áo cho học sinh nghèo, học sinh khuyết tật ở các trường học tại địa phương. Trong năm 2016 vừa qua, anh cũng đã quyên góp hỗ trợ đồng bào lũ lụt, học sinh khó khăn khoảng 150 triệu đồng.
Từ thành công của ngày hôm nay, Khoa nhớ lại những tháng ngày “chập chững” làm việc thiện: “Thời kỳ đầu mới làm công tác thiện nguyện, nhiều người nhìn cơ thể tàn tật của tôi và ái ngại. Nhưng tôi nghĩ, cuộc sống là sự chia sẻ, mình còn được sống thì còn làm được và còn hạnh phúc”.
Đến nay, Mai Tư Khoa đã vinh dự đón nhận rất nhiều giấy khen, bằng khen về công tác thiện nguyện và gương người khuyết tật vươn lên trong cuộc sống. Năm 2016, Khoa vinh dự được Ủy ban Trung ương hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tặng Bằng khen Thanh niên khuyết tật tiêu biểu.
Ông Trần Văn Tiến, Chủ tịch UBND xã Quảng Trường cho biết: “Mai Tư Khoa là tấm gương người khuyết tật luôn nỗ lực vượt lên hoàn cảnh. Mặc dù Khoa bị liệt nửa người, nhưng vẫn có thể kết nối với nhiều cá nhân, tổ chức trên khắp đất nước, kêu gọi giúp đỡ các hoàn cảnh khó khăn tại địa bàn. Nhờ đó, vào các dịp khai giảng năm học, các ngày lễ tết hay sau thời gian mưa lũ, các em học sinh và người già có những món quà vô cùng ý nghĩa, về cả vật chất lẫn tinh thần”.
Ngô Huyền 
Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 10 Tháng 5 2017 15:03 )
 
Trang 6 trong tổng số 107 trang.
Bạn đang ở: Trang chủ