Lịch âm dương

Xem tin theo ngày

< Tháng 10 2017 >
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 25 26 27 28 29
30 31          

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay324
mod_vvisit_counterHôm qua1806
mod_vvisit_counterTuần này4691
mod_vvisit_counterTuần trước28994
mod_vvisit_counterTháng này103208
mod_vvisit_counterTháng trước146579
mod_vvisit_counterTất cả3968486

Có: 28 khách trực tuyến

Tin tức - Sự kiện

Giáo sư Nguyễn Quang Mỹ: Một đời gắn bó với hang động Việt Nam

Email In PDF.
PL&XH) - Theo số liệu cách đây vài năm, Việt Nam hiện có khoảng trên dưới 1.000 hang động, nhưng các hang động kỳ vĩ, đặc sắc nhất tập trung chủ yếu ở các tỉnh: Quảng Ninh, Quảng Bình, Ninh Bình.
Riêng tỉnh Quảng Bình, đến năm 2010 thống kê được trên 300 hang động, trong đó tiêu biểu nhất cho sự đa dạng sinh thái là quần thể hang động Phong Nha – Kẻ Bàng.
Hang động thường nằm dọc theo triền núi đá vôi. Nhiều hang có cửa động rộng, trần cao trên 100m, có hang sâu khoảng 400m, dài trên 2km. Nhiều hang động có mạch sông suối ngầm chảy xuyên qua dãy đá vôi trùng điệp, hòa vào những con sông lớn. Những hang động được biết đến như: Phong Nha - Kẻ Bàng, Tam Cốc – Bích Động, Pắc Bó, Sơn Mộc Hương, Tam Thanh, Nhị Thanh, quần thể hang động Vịnh Hạ Long… có vẻ đẹp mê hoặc, kỳ ảo, có sức hấp dẫn kỳ lạ. Hàng triệu lượt khách trong nước, ngoài nước đã đến chiêm ngưỡng vẻ đẹp lung linh kỳ diệu của núi non, hang động Việt Nam. Việt Nam được liệt vào số nước có nhiều hang động đẹp bậc nhất thế giới.

“Ông vua hang động” Nguyễn Quang Mỹ gắn liền với hành trình khám phá hang động. Ảnh: Như Nguyễn
Nhưng dễ mấy ai đã hiểu rõ công việc của những nhà thám hiểm, tiên phong khám phá, phát hiện ra “kì quan” của đất nước. Một trong số những người tiên phong tìm kiếm hang động của Việt Nam là GS.TS Nguyễn Quang Mỹ. Nhưng nghe GS kể về những chuyến tìm kiếm hang động, mới thấy hết những nguy hiểm rình rập, đe dọa đến tính mạng. Chuyện “đường rừng” của GS cùng đồng sự Việt Nam, chuyên gia nước ngoài được kể lại:
- Mỗi chuyến đi chừng mươi ngày, nửa tháng. Nhưng trèo qua được những tảng đá chắn lối vào hang sâu, đôi khi mất trọn một ngày. Đó là khi khám phá động Phong Nha - Kẻ Bàng, hang Khe Ri, hang Vòm. Chỉ cần nhập nhoạng tối, đặt chân trên những khối đá chênh vênh, lọt xuống hẻm đá sâu đen ngòm là có thể rơi xuống cả chục mét. Gãy chân, sụn lưng là không tránh khỏi. Năm 1998, một chuyên gia hang động người Anh đã bị gãy chân trong một chuyến đi dài ngày ở tỉnh Quảng Bình. Đêm đến, nếu ngủ ở cửa hang, phải phân công canh chừng thú dữ. Nếu còn trong hang sâu thì phải “ngủ treo”, nghĩa là cột chân tay vào vách đá mà chập chờn cho qua đêm. Khi chúng tôi tìm đến hang Khe Ri tận biên giới Việt - Lào, ngỡ trời hanh khô như phía Việt Nam. Ai dè một trận mưa lớn từ bên kia biên giới bất ngờ ập vào hang. Những chuyên gia vội vàng tìm kiếm chỗ bám trên đỉnh hang cho qua cơn lũ. Chuyến đi năm 1997 để lại một ấn tượng khó quên cho chuyên gia người Anh, Trevor Wailes và Paul Callister. Suốt hơn 50 giờ treo mình trong hang, chờ nước rút, hai anh mới ra được khỏi hang. Nhưng khi về tới Hà Nội, nhớ lại chuyến đi đó, hai bạn nước ngoài coi đó là một kỷ niệm… rùng mình. Năm 2001, cuốn sách “Kỳ quan hang động Việt Nam” bằng ngữ Việt-Anh do GS Nguyễn Quang Mỹ, TS người Anh Hawaed Limbert chủ biên cùng sự đóng góp của 15 nhà khoa học Việt Nam và 40 nhà khoa học thuộc Hội Hang động Hoàng gia Anh đã ra mắt công chúng trong nước và quốc tế. Đó là kết quả 10 năm khảo sát công phu hang động tiêu biểu của Việt Nam trong giai đoạn đó. Trong buổi ra mắt ấn phẩm giá trị này, TS H.Limbert nói: Đây chỉ là một phần rất nhỏ chân dung của hang động Phong Nha – Kẻ Bàng.
GS. Nguyễn Quang Mỹ, SN 1939, tại làng quê Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình. Những năm chiến tranh, quê hương ông chìm trong khói lửa đạn bom. Cuộc sống khẩn trương thời chiến khiến cậu bé Nguyễn Quang Mỹ sớm trưởng thành, biết lo nghĩ việc nhà, việc nước. 14 tuổi, ông đã tham gia dạy văn hóa cho những người nông dân. Năm 17 tuổi, ông là Phó ban Bình dân học vụ xã, chiến sĩ thi đua diệt dốt. Vài năm sau ngày hòa bình lập lại trên miền Bắc, Nguyễn Quang Mỹ được đi học tại trường ĐH Lomnosov, Liên Xô (cũ), khoa Địa lý và đó cũng là chuyên môn đi cùng ông trong suốt cuộc đời. Ông làm luận án TS tại ĐH Tổng hợp Leningrad. Mấy năm sau, ông bảo vệ xuất sắc luận án TSKH với đề tài “Nghiên cứu xói mòn đất hiện đại ở Việt Nam” tại ĐH Tổng hợp Lomonosov. Năm 2002, ông được Nhà nước phong học hàm GS.
Nói về mình, sau trước ông vẫn khiêm nhường tự nhận là một thầy giáo bậc ĐH. Nhà giáo là chân dung xác thực của GS Nguyễn Quang Mỹ. Hơn 40 năm làm thầy, GS đã đào tạo hàng nghìn sinh viên, trong đó nhiều người đã trở thành TS, chuyên gia địa lý, địa chất, hang động. Nhưng sự đóng góp của ông không chỉ đơn thuần trong khuôn viên giảng đường. Người ta tôn vinh ông là “ông vua hang động” bởi cuộc đời ông gắn liền với hành trình khám phá hang động, và đã phát hiện ra nhiều hang động rất giá trị. Ông tâm niệm một điều: Phải tìm kiếm tài nguyên đang giấu mình trong lòng đất. Diện mạo địa lý, địa chất, vị trí, khí hậu Việt Nam cho ông nhiều hy vọng để khám phá hang động. Nhận cảm của ông hoàn toàn chính xác. Sau hơn 10 năm nghiên cứu, khám phá, GS Nguyễn Quang Mỹ cùng cộng sự và chuyên gia Anh quốc thực hiện Dự án trong 5 năm (1991 -1995), lập hồ sơ khoa học cho 300 hang động lớn nhỏ. Năm 1993, ông và nhiều nhà khoa học thành lập Hội hang động Việt Nam, tìm kiếm những đồng sự cùng chí hướng. Đến một số quốc gia châu Á, châu Âu và đặc biệt ở Anh quốc, Trung Quốc, ông khẳng định, dưới lòng đất đá Tổ quốc mình là một hệ thống hằng hà tài nguyên đến nay chưa được biết đến. Tiềm năng vô giá sẽ được khám phá. Rồi đây người trong nước, quốc tế sẽ chiêm ngưỡng vẻ đẹp tiềm ẩn, một thế giới lung linh choáng ngợp dưới lòng đất Việt Nam. Và quả thế. Khi hoàn tất dự án khám phá Phong Nha - Kẻ Bàng, năm 1997, GS Nguyễn Quang Mỹ đã đọc một báo cáo khoa học gây sửng sốt giới khoa học về Phong Nha - Kẻ Bàng: Vùng đá vôi có tuổi địa chất già nhất (300 - 400 triệu năm), rừng nguyên sinh rộng nhất, hơn 20 vạn ha. Cửa hang cao và rộng nhất. Dòng sông ngầm xuyên núi dài nhất. Có hồ nước ngầm đẹp nhất. Hệ thống thạch nhũ tráng lệ nhất… Với những giá trị đầy thuyết phục, năm 2003 UNESCO đã tôn vinh hang động Phong Nha - Kẻ Bàng là di sản thiên nhiên thế giới.
Nói đến những lần khảo sát hang động Phong Nha - Kẻ Bàng, GS Mỹ phấn chấn nhớ lại:
- Khi khám phá hang động Phong Nha - Kẻ Bàng cùng quần thể thiên nhiên nơi đây, các nhà chuyên môn Anh quốc nhìn nhận: Nói về độ dài, Phong Nha không so sánh được với hang Ease Gill của Anh trên 50km, hang Gió của Mỹ, dài trên 500km. Nhưng nhiều nhà chuyên môn quốc tế và du khách phải thừa nhận, không nơi nào kỳ thú như nơi này. Một màu sắc kỳ ảo, lung linh huyền bí đến mê hoặc. Đó thực sự là niềm tự hào cho chúng ta. Thiên nhiên quá hào phóng, ban tặng cho Việt Nam một kỳ quan. Và cũng là niềm tự hào của riêng tôi, một người con Quảng Bình, góp phần nhỏ bé, “xăm xoi” đất đá quê nhà để mang đến cho đất nước một viên ngọc. Từ khi phát hiện ra hang động Phong Nha - Kẻ Bàng, hàng triệu lượt người đến đây chiêm ngưỡng, hàng triệu người trên thế giới, nhớ đến một Việt Nam –Phong Nha – Kẻ Bàng.
Giờ đây tuổi đã cao, sức khỏe không còn như thời trai trẻ để chân tay bám vào vách đá, cheo leo trên những vùng núi đá chênh vênh. Ông lại tập hợp những tài liệu, những bức ảnh và nhớ lại tất cả. Nhớ từng hang động ông đã đi qua, nhớ cảm giác lung linh, sâu thẳm, nhớ tiếng suối róc rách luồn trong hang đá, nhớ cảm giác mát rượi bàn chân chạm vào mạch nước, từng khe núi thấm đẫm khí núi…và cả cảm giác rùng mình trong khuya khoắt vắng lặng hẻm sâu. Giờ đây, ông cùng vợ sống khiêm nhường trong khu tập thể Vĩnh Hồ. Nhưng có được những khoảnh khắc choáng ngợp, khám phá những hang động đã trở thành tài nguyên vô giá của đất nước, ông tự nói với mình, nói với những đồng nghiệp, sinh viên yêu quý: “Thật hạnh phúc”.
Như Nguyễn
Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 27 Tháng 9 2016 04:09 )
 

GS. Nguyễn Quang Mỹ - nhà giáo, chuyên gia hàng đầu về hang động Việt Nam

Email In PDF.
Tôi đã từng nghe nhiều về ông - chuyên gia hang động Việt Nam hay ông vua của hang động Việt Nam, nhưng đến khi được gặp ông, chuyện trò cùng ông tôi mới cảm nhận được sự uyên thâm trong từng câu nói, từng cử chỉ cẩn trọng của một người nghiên cứu khoa học, một nhà giáo lâu năm...
GS.TS.NGƯT Nguyễn Quang Mỹ sinh năm 1939 tại Ba Đồn (Quảng Bình). Ông là anh cả của gia đình có 8 người con, trong đó có các nhà văn kiêm nhà báo Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Quang Vinh. Tuổi thơ ông là một chuỗi những ngày gian khổ, khó khăn, song đầy ắp ước mơ, hoài bão. Và chính từ cuộc sống đầy vất vả cực nhọc đó, chính vùng đất cát trắng ấy đã nuôi dưỡng, thúc giục ý chí phấn đấu vươn lên để đền đáp lại công ơn sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ, của quê hương.
Khi còn nhỏ, cha công tác ở Việt Bắc xa xôi, đồng lương của cha được trả bằng thóc ở địa phương, các em thì đông, cậu bé Nguyễn Quang Mỹ đã từng phải đi bán nước chè xanh, kẹo bánh, sách vở... kiếm tiền giúp mẹ nuôi các em ăn học. Bên dòng sông Gianh xanh biếc, hiền hoà, những lúc nước cạn, cùng với bạn bè cậu bé Mỹ lại đi bắt cá, bắt cua... để tăng thêm "chất đạm" cho bữa cơm đạm bạc trên miền quê cát trắng. Nói "cơm" cho oai chứ khoai khô xéo, khoai củ luộc coi như những bữa ăn "trường kỳ". Cuộc sống cứ như vậy, kéo dài đến hết thời kỳ giảm tô và cải cách ruộng đất. Đông xuân 1952 - 1953 do chiến tranh ác liệt, gia đình chạy giặc, cậu bé Mỹ lúc đó đã dắt dìu ba em nhỏ tay bồng, tay bế đi xin kiếm ăn nơi đất khách quê người và một tháng sau đó thì được tổ chức đưa trở lại chiến khu...
Thời gian quê hương còn trong vùng bị chiếm, cậu thiếu nhi Nguyễn Quang Mỹ đã tham gia du kích. Giặc đến, nhân dân sơ tán tạm thời lên vùng núi, cậu bé đã cùng đồng đội, tay súng, tay lựu đạn góp phần chặn đứng quân thù giày xéo quê hương. Nguyễn Quang Mỹ vừa chăm chỉ lao động, vừa đi học, vừa tham gia dạy bổ túc văn hoá vào những giờ rảnh rỗi. Trong phong trào diệt dốt năm 1956 - 1957, Nguyễn Quang Mỹ đã được tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua ái quốc của tỉnh Quảng Bình, được Bác Hồ tặng ảnh có ký tên Người. Từ những thành tích đó, 18 tuổi, Nguyễn Quang Mỹ được đưa ra Hà Nội học tập tại trường Bổ túc Văn hoá Công nông - mái trường cách mạng sau chiến tranh chống Pháp và được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam năm 1959.
Năm 1961, Nguyễn Quang Mỹ được đưa đi đào tạo ở Liên Xô, học tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Tổng hợp Lômônôxốp. Năm 1964, nghe tin giặc Mỹ đánh phá quê hương dữ dội, Nguyễn Quang Mỹ đã lấy máu viết thư về xin gia nhập Quân đội nhân dân Việt Nam để chiến đấu bảo vệ quê hương, đất nước, nhưng tâm nguyện này của ông đã không được đáp ứng. Việt Nam đang cần những con người có tri thức để phục vụ đất nước. Ở lại Liên Xô, Nguyễn Quang Mỹ đã dồn sức vào học tập, tu dưỡng và hoàn thành tốt việc học tập của mình. Năm 1966, ông tốt nghiệp chuyên ngành Địa mạo tại Trường Đại học Tổng hợp Lômônôxốp.
Tháng 8.1966, cậu sinh viên vừa tốt nghiệp đại học ở Liên Xô về được Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp phân công về công tác tại Khoa Địa lý - Địa chất, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nhiệm vụ đầu tiên anh được giao là làm Bí thư khoa, trợ lý đắc lực giải quyết mọi công việc sự vụ giúp GS. NGND Nguyễn Văn Chiển - Chủ nhiệm khoa.
Năm 1969, ông được Nhà trường cử sang Trường Đại học Tổng hợp Lêningrat làm nghiên cứu sinh và bảo vệ luận án tiến sĩ năm 1971. Tới năm 1989, ông lại được cử đi làm thực tập sinh tại Đại học Tổng hợp Lômônôxốp và hoàn thành luận án tiến sĩ khoa học năm 1991. Tại Đại học Tổng hợp Lômônôxốp, Nguyễn Quang Mỹ đã có được một vinh dự lớn - vinh dự được lần thứ ba gặp Bác Hồ, sau hai lần gặp Bác về thăm trường Bổ túc Công nông Trung ương. Trong buổi nói chuyện với sinh viên Việt Nam học tập ở Matxcơva, Bác Hồ có dặn: "Các cháu phải học giỏi để sau này phục vụ Tổ quốc được tốt"... Ông hiểu: Tổ quốc đã gửi gắm rất nhiều hy vọng vào những người được cử sang Liên Xô thời điểm ấy, trong đó có ông, và ông đã ghi nhớ lời dặn đó, thực hiện và coi đó như một phương châm sống của mình. Suốt những năm sống và học tập ở Liên Xô (11 năm, tuy không liền mạch), Nguyễn Quang Mỹ chỉ có một điều nung nấu: phải phấn đấu rèn luyện, học tập để sau này trở về phục vụ Tổ quốc.
GS. Nguyễn Quang Mỹ được phong học hàm Phó giáo sư năm 1984, Giáo sư năm 2002 và được tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú năm 1994.
Gần bốn mươi năm công tác tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN, GS. Nguyễn Quang Mỹ đã dành tất cả sức lực, tâm huyết và trí tuệ cống hiến cho ngành Địa lý - một ngành khoa học vẫn còn khá trẻ của nước ta. Trong những ngày gian khó của đơn vị, cơ sở vật chất thiếu thốn, lực lượng cán bộ còn mỏng, ông là một trong những người đầu tiên góp phần thành lập ngành Địa lý (1966) và Bộ môn Địa mạo (1972) trong Khoa Địa lý - Địa chất, và góp phần thành lập ngành Địa chính trong Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN ngày nay.
Ông đã trải qua nhiều cương vị công tác như: Bí thư chi bộ Khoa Địa lý - Địa chất, Chủ nhiệm Bộ môn Địa lý (1966 - 1968), Chi uỷ viên, Bí thư chi đoàn cán bộ giảng dạy Khoa Địa lý - Địa chất (1966 - 1968), Chủ nhiệm Bộ môn Địa mạo (1972 - 1981), Phó chủ nhiệm Khoa Địa lý - Địa chất (1983 - 1985), Chủ nhiệm Khoa Địa lý - Địa chất (1986 - 1988), Đảng uỷ viên, Chủ tịch công đoàn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1986 - 1988), Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (1986 - 1988), Chủ nhiệm Khoa Địa lý (1996 - 2000) và nhiều khoá là Bí thư Chi bộ Khoa Địa lý (1996 - 2005).
Trong suốt cuộc đời làm thầy, làm khoa học của mình, GS. Nguyễn Quang Mỹ luôn ấp ủ một ước mơ: khám phá những điều kỳ diệu trên mảnh đất Tổ quốc Việt Nam để đưa khoa học địa lý vào phục vụ đất nước; nghiên cứu hang động karst phục vụ du lịch và các ngành kinh tế khác. Và tới nay, ông đã làm được điều đó. Ông trở thành một trong những người đi đầu trong nghiên cứu xói mòn đất hiện đại ở Việt Nam xây dựng ý tưởng bậc thang hoá trên đất trống đồi núi trọc để phát triển nông lâm nghiệp ở trung du và miền núi; đồng thời là một trong những người đầu tiên nghiên cứu tai biến thiên nhiên từ năm 1991, nghiên cứu hang động phục vụ các ngành kinh tế từ năm 1972 đến nay.
GS. Nguyễn Quang Mỹ đã từng giảng dạy các môn: Địa mạo đại cương, Địa mạo động lực, Tai biến thiên nhiên và Hang động học. Ông thực sự chuyên về hang động từ 1991. Đó cũng là lúc việc khảo sát hang động Việt Nam có một bước ngoặt trọng đại. Năm ấy ông Howard Limbert, thành viên Hiệp hội Nghiên cứu Hang động Anh, một tổ chức nằm trong Hội Địa lý Hoàng gia Anh viết thư cho các tổ chức địa lý của Việt Nam, Lào đề nghị phối hợp khảo sát hang động. Ba lá thư gửi đi nhưng họ chỉ nhận được lá thư trả lời duy nhất của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Người hồi âm là Chủ nhiệm Khoa Địa lý - Địa chất, GS. Nguyễn Quang Mỹ.
Chuyến đầu tiên phối hợp khảo sát hang động giữa Anh và Việt Namdiễn ra vào 1991 thành công và đã đưa hang Phong Nha ra ánh sáng, không chỉ với người trong nước mà toàn thế giới. Từ đấy đến nay đã có 10 đợt khảo sát phối hợp như thế ở nhiều tỉnh Hoà Bình, Cao Bằng, Quảng Ninh, Quảng Bình, Ninh Bình, Hà Giang... Các báo cáo thăm dò, kèm theo số liệu khảo sát và những ảnh chụp tuyệt đẹp được công bố trên nhiều số của tạp chí "Người thám hiểm hang động quốc tế" đã thu hút nhiều người tới các hang động Việt Nam. Cũng sau chuyến khảo sát năm 1991, với nỗ lực của mình, GS. Nguyễn Quang Mỹ đã xin được của Nhà nước một đề tài nghiên cứu hang động kéo dài 5 năm (1991 - 1995), nhờ đó các nhà nghiên cứu hang động Việt Nam đã lập hồ sơ khoa học của 300 hang lớn nhỏ. Và năm 1993, GS. Nguyễn Quang Mỹ cùng một số đồng nghiệp đã sáng lập ra Hội Hang động Việt Nam. Ông tâm sự: "Tôi được đào tạo chuyên sâu về địa mạo karst ở Liên Xô, cũng đã từng bốn năm lăn lộn với vùng đá vôi Bắc Sơn - Lạng Sơn trong vai trò người thăm dò địa chất, nhưng phải đến khi sang một số nước Âu - Mỹ, nhất là nước Anh, chứng kiến "phong trào" nghiên cứu và thám hiểm hang động của người dân các nước ấy tôi mới giật mình. Ở Anh, ngoài chợ chỗ nào cũng bày bán các dụng cụ bảo hiểm vào hang. Chỉ cần vài chục mét hang là người ta kéo đến rần rần. Ngay sát mình đây, Thạch Lâm ở huyện Lu Nan tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, địa hình giống hệt vùng "cao nguyên đá" Đồng Văn - Hà Giang nhà mình, hàng năm họ kiếm được 600 - 700 triệu USD nhờ du lịch hang động. Trong khi đó nước ta có biết bao nhiêu vùng địa mạo karst, là một tài nguyên rất lớn cho "nền công nghiệp không khói" mà vẫn chưa được biết đến... Bắt tay vào nghiên cứu lĩnh vực hang động học, chúng tôi chỉ mong rằng sẽ góp được phần sức lực nhỏ bé của mình vào sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước".
GS. Nguyễn Quang Mỹ cùng 15 nhà địa lý - địa chất Việt Nam và 20 nhà khoa học người Anh thuộc Hội hang động Hoàng gia Anh đã khảo sát, đo vẽ được 300 hang động của Việt Nam tập hợp trong cuốn "Kỳ quan hang động Việt Nam" in bằng hai thứ tiếng Việt và Anh, kèm theo 209 ảnh màu và nhiều bản đồ, bản vẽ do ông và ngài Haward Limbert cùng chủ biên, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN và Trung Tâm Bản đồ và Tranh ảnh Giáo dục xuất bản.
Tên tuổi của GS.TSKH Nguyễn Quang Mỹ được người ta biết đến nhiều bắt đầu từ năm 1997, tại Đồng Hới, Quảng Bình, trong một hội thảo khoa học, ông đứng ra tuyên bố những số liệu chấn động giới khoa học về danh thắng Phong Nha - Kẻ Bàng. Với những cái nhất mà ông chỉ ra: vùng đá vôi có tuổi địa chất già nhất (300 - 400 triệu năm), rừng nguyên sinh rộng nhất hơn 20 vạn ha, cửa hang cao và rộng nhất, dòng sông ngầm xuyên núi dài nhất, Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới năm 2003. Đây là một tin vui tuyệt vời đối với các nhà nghiên cứu hang động như GS. Nguyễn Quang Mỹ và với nhân dân Việt Nam. Chính nhờ những chuyến khảo sát ấy, rồi sự công nhận của UNESCO, hàng chục bài báo được công bố trên thế giới, cuốn hút nhiều du khách và nhà nghiên cứu tới Phong Nha - Kẻ Bàng. Theo Ban quản lý di tích động Phong Nha, mỗi năm có hàng trăm ngàn lượt du khách đến tham quan. Phong Nha - Kẻ Bàng được bạn bè nhiều nước trên thế giới biết đến, Việt Nam có thêm một danh lam thắng cảnh, một khu du lịch nổi tiếng, đó là nhờ một phần đóng góp tích cực của GS. Nguyễn Quang Mỹ - chuyên gia về hang động học, người đã dành nhiều công sức, tâm huyết cho ngành khoa học này.
Những điều đã đạt được và cả những bài học rút ra sau những lần thất bại trong tìm tòi nghiên cứu khiến GS. Nguyễn Quang Mỹ càng có thêm động lực, đam mê trong công việc. Ông đã từng nói: "Với nghề hang động cần phải giàu lòng can đảm và kiên trì". Quả đúng là như vậy! Ông đã lăn lộn hầu hết các miền đất nước để tìm hiểu, nghiên cứu điều kiện phát sinh và phát triển địa hình, các quá trình tai biến thiên nhiên và đề ra những phương pháp giảm thiểu. Những năm gần đây, với cương vị là Chủ tịch Hội địa lý Việt Nam cũng như Chủ tịch Hội hang động Việt Nam, ông đã cùng với đồng nghiệp nghiên cứu những điều kiện địa lý nhiệt đới của quê hương, đất nước để tìm ra những giải pháp sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên.
Cho tới nay, ông đã có một khối lượng công trình khoa học đồ sộ với 40 công trình nghiên cứu khoa học đăng tải trên các tạp chí trong và ngoài nước, gần 20 báo cáo khoa học được công bố ở các hội nghị khoa học quốc gia và quốc tế, 28 đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, chủ biên hoặc tham gia viết 6 giáo trình và cùng đồng nghiệp xuất bản 9 sách chuyên khảo. Đó là kết quả của một quá trình lao động không biết mệt với những năm tháng đi thực địa thu thập tài liệu gặp biết bao nhiêu gian nan, vất vả, nguy hiểm. Dưới sự hướng dẫn tận tình của ông, hàng trăm sinh viên đã hoàn thành xuất sắc khoá luận tốt nghiệp, nhiều học viên cao học đã bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ, 10 nghiên cứu sinh đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Địa lý.
Dù trong hoàn cảnh công tác nào, GS. Nguyễn Quang Mỹ đều gần gũi, ân cần động viên đồng nghiệp giữ vững đoàn kết nội bộ, giúp nhau vươn lên để hoàn thành trách nhiệm trước Nhà trường. Ông đã truyền cho sinh viên niềm đam mê và phấn đấu xây dựng một ngành Địa lý vững mạnh. Ông tâm sự: "Nếu có kiếp sau, tôi vẫn tiếp tục lao động, sáng tạo hết mình tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN. Tại mái trường này, tôi đã trưởng thành, đã được học tập nhiều từ bạn bè, đồng nghiệp, được cống hiến sức mình cho sự nghiệp trồng người và cho nghiên cứu khoa học - đó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của tôi".
Bốn mươi năm tuổi nghề - GS. Nguyễn Quang Mỹ đã có 8 năm đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua, 10 năm liền được công nhận Giáo viên dạy giỏi cấp cơ sở (1992 - 2002), 3 năm được công nhận Giáo viên dạy giỏi cấp ĐHQGHN (1999, 2001, 2002). Ông đã được tặng 40 bằng khen các cấp; Huân chương Kháng chiến hạng Ba; Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba; Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục; Huy chương Vì sự nghiệp khoa học công nghệ, Huy chương Vì sự nghiệp công đoàn, Huy chương Vì sự nghiệp Địa chất và Huy chương Vì sự nghiệp Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam.
Sáu mươi bảy tuổi đời, mái tóc trên đầu đã điểm bạc, nhưng đôi chân GS. Nguyễn Quang Mỹ còn dẻo dai lắm. Hoài bão và dự định cho tương lai vẫn còn nhiều. Ông vẫn ngày đêm cố gắng tìm tòi những phương án chống xói mòn đất để bảo vệ độ phì của đất nhằm phát triển nông - lâm nghiệp; nghiên cứu, đo vẽ nhiều hang động ở các miền Tây Bắc, Đông Bắc và miền Trung, phục vụ phát triển du lịch và các ngành kinh tế khác... Những tổng kết kinh nghiệm của gần 40 năm lăn lộn trên mọi miền Tổ quốc đang được GS. Nguyễn Quang Mỹ tiếp tục trình bày trên từng trang giáo trình và sách chuyên khảo để cho thế hệ trẻ tiếp tục nghiên cứu và bổ sung.
Tháng Ba này, ông lại về Phong Nha - Kẻ Bàng cùng các nhà khoa học Việt Nam và Anh tiếp tục nghiên cứu với ước vọng "làm cho danh sách hang động của Việt Nam được dài hơn". Tôi thầm cầu nguyện cho ông được mạnh khoẻ, dẻo dai để thực hiện được những dự định của mình, cống hiến nhiều hơn cho xã hội, cho đất nước./.
Nguyễn Mai Hương [100 Years-VietNam National University,HaNoi]
Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 24 Tháng 9 2016 03:42 )
 

Giáo sư-Tiến sĩ khoa học Nguyễn Quang Mỹ: Người thầy lặng lẽ

Email In PDF.
(QBĐT) - Bốn tháng trước, tôi xin số điện thoại nhà riêng của Giáo sư-Tiến sĩ khoa học (GS-TS) Nguyễn Quang Mỹ từ người em của ông, nhà văn Nguyễn Quang Lập. Điện thoại đổ chuông, đầu dây bên kia bắt máy, giọng người cao tuổi trầm ấm, đặc sệt tiếng vùng bắc sông Gianh gốc gác Ba Đồn. Nghe người trong quê gọi, giáo sư kể nhiều chuyện thơ ấu, y hệt những câu chuyện mà nhà văn Nguyễn Quang Lập kể trong tập Ký ức vụn. Rồi bẵng đi, hôm nay gọi hỏi thăm sức khỏe ông, vợ giáo sư, bà Nguyễn Thị Thu Hòe giọng chùng xuống: Giáo sư mắt mù rồi, không nhìn thấy gì, chục ngày nay bị ngã, nằm một chỗ, không biết gì hết. Cuộc đời của giáo sư là cả sự  đam mê, cống hiến, về hưu, ông cùng vợ yên bình trong căn phòng tập thể ở Vĩnh Hồ, Ngã Tư Sở, Đống Đa, Hà Nội.
Hạnh phúc khi trò giỏi hơn thầy
Bốn tháng trước khi trò chuyện cùng giáo sư qua điện thoại, ông kể bao câu chuyện thiếu niên thời chiến tranh cùng mấy đứa em của mình như cu Lập, cu Vinh đi xem máy bay bị bắn cháy, tắm mát nước nguồn sông Gianh, giọng trầm đều, ấm áp, đặc sệt khuôn giọng Ba Đồn mà suốt đời ông giữ trong tiếng nói.
Nói về mình, mặc dù đã là giáo sư, tiến sĩ khoa học, ông vẫn chân phương: “Mình là thầy giáo, đi mô cũng là thầy giáo. Suốt đời là thầy giáo thôi”. GS-TS Nguyễn Quang Mỹ nói thế, nhưng những sách vở mà ông gửi cho tôi mới biết một gia tài đồ sộ về nghiên cứu khoa học.
Trong chiến tranh, 14 tuổi, ông đã dạy bổ túc văn hóa, 17 tuổi là phó ban bình dân học vụ xã, chiến sĩ thi đua diệt dốt, tham gia phong trào du kích... 18 tuổi, Nguyễn Quang Mỹ được đưa ra Hà Nội học cấp III tại Trường bổ túc văn hoá Công nông Trung ương khoá II cùng với những anh hùng nổi tiếng như La Văn Cầu, Nguyễn Thị Chiên, Ngô Gia Khảm... Sau đó, ông được cử đi đào tạo tại khoa Địa lý của Trường đại học Tổng hợp Lômônôxôp (Liên Xô) từ cử nhân, tiến sĩ rồi tiến sĩ khoa học. Công trình dấu ấn của ông để lại trên ba miền Việt Nam là là luận án tiến sĩ khoa học với đề tài “Nghiên cứu xói mòn đất hiện đại ở Việt Nam”, thành công xuất sắc.

GS.TSKH NGUYỄN QUANG MỸ
Nhà giáo Nhân dân, Giảng viên cao cấp - Chủ tịch Hội Địa lý Việt Nam
Chủ tịch Hội Hang động Việt Nam - Chủ nhiệm Khoa Địa lý – Địa chất (1984 - 1988) -
Chủ nhiệm Khoa Địa lý (1996 - 2000) Nghỉ hưu năm: 2005 –
Sinh: 20/12/1939 – Mất: 3 giờ 15 phút sáng ngày 25/2/2014
Từ đó đến ngày về hưu, GS-TS Nguyễn Quang Mỹ dành tất cả sức lực và tâm huyết của ông cho Địa lý - một ngành khoa học quan trọng của mỗi quốc gia. Từ năm 1966-2005, GS-TS Nguyễn Quang Mỹ công tác tại Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là Trường đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội; được nhận học vị tiến sĩ năm 1971, tiến sĩ khoa học chuyên ngành Địa mạo năm 1991; được phong học hàm phó giáo sư năm 1984, giáo sư năm 2002.
Hướng nghiên cứu khoa học chủ yếu của ông là: đo vẽ bản đồ địa mạo tỷ lệ lớn; nghiên cứu xói mòn đất, tai biến thiên nhiên, hang động karst. Ông hướng dẫn thành công 10 luận án tiến sĩ Địa lý và hàng trăm khóa luận tốt nghiệp; viết 6 giáo trình, cùng đồng xuất bản 9 sách chuyên khảo, chủ trì 28 đề tài nghiên cứu khoa học.
Với thành tựu của người thầy tận tụy, GS-TS Nguyễn Quang Mỹ đã được Đảng, Nhà nước khen thưởng: Huân chương Kháng chiến hạng ba; Huân chương Lao động hạng nhất, nhì, ba; Huy chương Vì sự nghiệp giáo dục, Huy chương Vì sự nghiệp khoa học công nghê; Huy chương Vì sự nghiệp công đoàn và nhiều huy chương khác...
Trò chuyện với ông, ông kể, thế hệ học trò sau này có nhiều người giỏi được thế giới vinh danh, và với ông đó là hạnh phúc, niềm hạnh phúc của người thầy khi thấy trò giỏi hơn mình, giỏi hơn có nghĩa là cống hiến nhiều cho đất nước, cho Tổ quốc.
Về hưu thầm lặng
Cũng cần nói thêm rằng, Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng được UNESCO thế giới vinh danh Di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chí địa mạo địa chất, trong đó công lao của GS-TS Nguyễn Quang Mỹ là không nhỏ.
Ông nói: “Tôi về hưu trên giấy tờ nhưng vẫn tiếp tục những chuyến khám phá hang động Việt Nam, bởi sự khám phá ấy là vô tận". Tuổi trai tráng, ông cống hiến cho niềm đam mê hang động, địa mạo địa chất trên các vách núi cheo leo ở Cao Bằng, Sơn La, Lạng Sơn, rồi trở về thám hiểm hang động ở Phong Nha-Kẻ Bàng. Ông đã cùng các nhà khoa học Anh xuất bản tập tài liệu Anh - Việt với gần 300 tấm ảnh về 300 hang động lộng lẫy tại Quảng Bình để giới thiệu với thế giới.

Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng được UNESCO vinh danh Di sản thiên nhiên thế giới,
về địa chất địa mạo, GS-TS Nguyễn Quang Mỹ đã đóng góp không nhỏ vào hành trình vinh danh
này về mặt khoa học và chỉnh lý hồ sơ, nghiên cứu thực địa, thuyết trình với các chuyên gia. Ảnh: B.Chiến
Với hang động ở Phong Nha - Kẻ Bàng, GS-TS Nguyễn Quang Mỹ nói: "Có thể nói, thiên nhiên đã hào phóng ban tặng cho Phong Nha-Kẻ Bàng một cảnh đẹp tuyệt vời. Những cột nhũ đá lóng lánh bạc, những ngai vàng kim cương, những cụm thạch nhũ hồng tươi trên dòng sông ngầm Phong Nha rất hiếm gặp ở các hang động khác. Về độ dài thì Phong Nha không thể sánh với hang Gió của Mỹ dài đến 530km, hay hang Ease Gill của Anh dài đến 52km, nhưng chính các nhà thám hiểm hang động thế giới tôi gặp luôn nói rằng không nơi đâu hang động lại kỳ ảo, huyền bí và rực rỡ như Phong Nha - Kẻ Bàng. Đó là niềm tự hào của thiên nhiên Việt Nam. Họ càng khám phá, càng bất ngờ".
Như thế để biết tấm lòng của ông với quê hương luôn sâu đậm. Ngày hồi hưu trong căn nhà tập thể, ông vẫn viết các công trình khoa học đeo đuổi, nhưng hai năm nay, bệnh tình trầm trọng đã buộc GS-TS Nguyễn Quang Mỹ gần như dừng lại bao ấp ủ của mình. Ông nói: “Mình đã bị mù rồi, không nhìn được gì nữa, điện thoại di động bỏ lâu rồi, chỉ nghe được điện thoại bàn thôi. Điện thoại bàn cố định, mình cứ thế lần tới để nghe”.
Vợ ông, bà Nguyễn Thị Thu Hòe (70 tuổi) nói: “Bố Mỹ nay sức khỏe yếu, nằm một mình mấy ngày nay, thời trai trẻ mắt sáng, đi đông đi tây, đi nam đi bắc, giờ lặng lẽ vì mắt mù lòa”.
Người thầy ấy về hưu, lặng lẽ với dòng đời, lặng lẽ với bệnh tật, lặng lẽ với nỗi đau mù lòa. Cuộc điện thoại bốn tháng trước, giáo sư nói rất khó khăn để nghĩ đến cảnh mù lòa là sự thật, bởi thà mù bẩm sinh để khỏi biết thế giới xung quanh, mình đã biết thế giới tươi đẹp của quê hương đất nước, nay bóng tối mù lòa ập đến, thật khó để sống chung với nó. Nhưng phải chấp nhận thôi, vì đó là định mệnh.
Giaó sư có ba người con, hai gái, một trai. Chị gái đầu làm báo Môi trường và sức khỏe, chị gái thứ làm ở Trung tâm vi sinh quốc tế tại Hà Nội, con trai út, Nguyễn Quang Minh làm ở khoa Địa lý, nơi giáo sư từng giảng dạy.
GS-TS, Nhà giáo ưu tú Nguyễn Quang Mỹ lặng lẽ như thế với ốm đau, và những lúc nhớ quê, ông vẫn thường nói vợ nhờ bà con ở Ba Đồn gửi bột cháo canh, cá biển, nấu cho ông ăn để khỏi quên tiếng nói Ba Đồn hồn hậu, thân thương của gốc gác tổ tông. Những lúc như thế, vợ ông lại tất bật điện thoại, tất bật đợi hàng, đón nhận quà quê và vui vẻ vô cùng bởi nhìn thấy chồng mình phấn chấn với da diết quê hương.
Nam Dương
Lần cập nhật cuối ( Chủ nhật, 11 Tháng 9 2016 05:38 )
 

Độc đáo lễ hội cướp cù Đồng Phú, Quảng Bình

Email In PDF.
(Thethaovanhoa.vn) Đã từ lâu, lễ hội cù (hay còn gọi là lễ hội cướp cù) là một hoạt động mang đậm giá trị văn hóa truyền thống của người dân thành phố Đồng Hới (Quảng Bình). Lễ hội cướp cù ở phường Đồng Phú, thành phố Đồng Hới là một trong những lễ hội độc đáo và đặc sắc nhất ở tỉnh Quảng Bình.
Theo các bô lão ở Đồng Phú, lễ hội cướp cù Đồng Phú có từ rất lâu đời, do ông cha truyền lại, được kế thừa và nối tiếp lễ hội cướp cù ở làng Trấn Ninh xưa, xuất xứ dưới thời nhà Trần do Tướng quân Phạm Ngũ Lão sáng tạo ra cho binh sỹ vui chơi, giải trí kết hợp với rèn luyện sức khỏe. Trước đây, lễ hội cướp cù được tổ chức 6 năm một lần, diễn ra vào ngày 15 tháng Giêng của các năm Tí, Ngọ. 
Trai tráng trong làng chọn làm hai phe, phe Đông (tức phía đông Đồng Phú), phe Tây (tức phía tây Đồng Phú). Làng cử hai người phụ trách gọi là đầu phe, hai trọng tài phất cờ, một người chấp lệnh truyền bằng ống loa và người giữ chuông, trống. Năm nào phe Tây thắng cuộc, năm ấy làng mùa màng bội thu. 
Năm nào phe Đông thắng, năm đó làng phát về đường quan chức, khoa bảng đỗ đạt. Năm nào hòa không phân chia được thắng thua, năm đó cả nông nghiệp lẫn đường khoa bảng, quan chức đều thịnh vượng hoặc quân bình.

Lễ hội cướp cù. Ảnh: Phan Ba
Quả cù (quả cầu) được kết bằng tre thành một quả bóng nhỏ, bên ngoài cuốn vải màu đỏ, được đặt trang nghiêm thờ ở Thành hoàng làng. Khi cuộc thi kết thúc, cù sẽ được rước về lại đền thờ. Sau lễ tế ở đình làng xong, vị tiên chỉ của làng trịnh trọng bưng quả cầu đến sân cướp cù. 
Còn giỏ đựng cù được đan bằng mây hoặc tre, miệng giỏ có đường kính 25cm, gắn vào gần đỉnh thân cây tre (gọi là cột cù); khoảng cách từ mặt đất đến giỏ cù là 8m và hai cột cù của hai đội được đặt ở hai đầu sân, cách nhau 90m. Các cù thủ là thanh niên trai tráng trong làng, gồm 25 cù thủ mỗi đội, trong số đó sẽ có 5 người dự bị ngoài sân.
Ông Hà Xuân Hiền, Chủ tịch UBND phường Đồng Phú, thành phố Đồng Hới cho biết, lễ hội cù Đồng Phú là một nét đẹp văn hóa được bảo tồn, phục hồi và đặc trưng rất riêng của phường. Lễ hội cướp cù được tổ chức 5 năm một lần, vào dịp tết, Rằm tháng Tư và kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc.
Năm nay, lễ hội cù của phường được nâng cấp lên thành lễ hội truyền thống cấp thành phố và lần đầu tiên được tổ chức đúng thời điểm diễn ra Tuần Văn hóa – Du lịch Đồng Hới năm 2016, từ ngày 26/4 đến 2/5. Hội cướp cù phường Đồng Phú được xem là điểm nhấn cho toàn chuỗi các sự kiện trong tuần lễ. Đây là niềm tự hào và vinh dự đối không chỉ với các đội cù, các cù thủ mà còn là niềm vui chúng của nhân dân trong phường.

Người dân khắp vùng đỗ về xem hội. Ảnh: Phan Ba
Sáng sớm ngày 29/4, sau khi làm lễ tế tại đền thờ Thành hoàng làng xong, quả cù được vị tiên chỉ của làng trịnh trọng đưa đến sân tổ chức thi đấu. Hai phe Đông, Tây đứng dàn trận sẵn sàng nghe hiệu lệnh. Nhiệm vụ của hai phe là phải làm sao giành cho được quả cù đem về tung vào giỏ của phe mình, phe nào tung được nhiều quả cù hơn thì thắng cuộc. 
Trong quá trình thi đấu, các cù thủ cùng phối hợp nhịp nhàng, chặt chẽ để vừa cản phá phe bạn vừa chuyền được bóng cho cù thủ đội mình. Chính vì thế, ở người chơi đòi hỏi vừa có sức khỏe để chạy và giữ cù vừa phải nhanh nhạy, dẻo dai và tinh thần đoàn kết cao. Khi cù được ném lên giỏ, người giữ giỏ phải điều chỉnh cột cù theo hướng cù để làm sao hứng được quả cù vào giỏ của đội mình.
Có mặt tại sân vận động thành phố Đồng Hới, được tận mắt xem các cù thủ thi đấu, xen lẫn trong tiếng chiêng, trống, tiếng hò reo cổ vũ nhiệt tình, rộn ràng của người dân, chúng tôi như được sống trong không khí thi đấu sục sôi, vui tươi, phấn khởi và cảm nhận được sự khỏe khoắn, tinh thần đoàn kết của mỗi đội. Quan trọng hơn, đây là cơ hội để du khách trong và ngoài nước tìm hiểu, biết thêm về một nét văn hóa truyền thống của cư dân nơi đây.
Trong niềm vui chiến thắng, cù thủ Hoàng Văn Lãm chia sẻ: Truyền thống của đội Tây năm nào cũng thắng. Năm nay, anh em trong đội cố gắng giữ vững phong độ trong suốt quá trình tập luyện và thi đấu. Niềm vui chiến thắng này xin chia sẻ với các cù thủ của đội và dành tặng đến toàn thể người dân của làng.
Ông Nguyễn Chung Nguyên, Phó Chủ tịch UBND thành phố Đồng Hới cho biết: Thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII về “Xây dựng và phát triển nền Văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, những năm qua Đảng bộ và nhân dân Đồng Hới tích cực hưởng ứng cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; từ đó, hình thành nhiều phong trào thi đua yêu nước, gặt hái nhiều kết quả đáng phấn khởi, đặc biệt là trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao.
Hội cù truyền thống của thành phố Đồng Hới là một hoạt động thể thao mang đậm bản sắc văn hóa địa phương, được các bậc cao niên lưu giữ và truyền lại cho con cháu. Qua việc tổ chức Hội thi cướp cù thể hiện ước nguyện cầu mùa, cầu may mắn và cầu hạnh phúc cho nhân dân, quê hương, đất nước.
Đồng thời, đây cũng là dịp để thanh niên ở địa phương rèn luyện, tăng cường sức khỏe, cổ vũ tinh thần thi đua lao động sản suất và làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân; qua đó, quảng bá nét đẹp văn hóa, sản phẩm và hình ảnh du lịch của quê hương đến du khách.
Nét đẹp mang đậm tính nhân văn trong lễ hội cướp cù Đồng Phú chính là tinh thần đoàn kết và dù thua hay thắng thì cả các đội chơi và người cổ vũ đều vui vẻ trao nhau những cái bắt tay, lời động viên thắm tình làng quê.
TTXVN/Võ Dung
Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 30 Tháng 8 2016 10:44 )
 
Trang 10 trong tổng số 105 trang.
Bạn đang ở: Trang chủ