Lịch âm dương

Xem tin theo ngày

< Tháng 1 2018 >
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 25 26 27 28
29 30 31        

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1248
mod_vvisit_counterHôm qua3185
mod_vvisit_counterTuần này9395
mod_vvisit_counterTuần trước17128
mod_vvisit_counterTháng này53089
mod_vvisit_counterTháng trước37085
mod_vvisit_counterTất cả4110162

Có: 17 khách trực tuyến

Tin tức - Sự kiện

Ký ức làng qua những sắc phong xưa

Email In PDF.
Ai đó đã từng ví von, một trong những “báu vật” quý giá nhất của làng, xã, dòng họ chính là các đạo sắc phong xưa. Bởi, chúng không chỉ đơn thuần là “bằng khen”, “tấm huân chương” của làng, xã hay cá nhân, dòng họ, mà sâu xa hơn, mỗi tấm sắc phong được bảo tồn, lưu giữ nâng niu, trân trọng qua từng thế hệ, chính bởi phần giá trị truyền thống, hồn cốt tinh thần vẹn nguyên qua những biến động của thời gian.

Sắc phong của vua Quang Trung cho Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, sắc phong truyền tải lại cho hậu thế các tư liệu quý giá và trung thực nhất về tên, tuổi, công lao của một số nhân vật lịch sử, như: quê quán, công trạng, xếp hạng (nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng tôn thần), biểu thị sự tôn vinh của vương triều và cộng đồng cư dân với vị thần đó. Sắc phong cung cấp những thông tin quý giá, bổ sung thêm lịch sử và là một nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu các tín ngưỡng văn hóa dân gian. Có hai loại sắc phong thường gặp là sắc phong chức tước và sắc phong thần.
Nhà nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian Văn Tăng chia sẻ, với 410 năm hình thành và phát triển, hầu như huyện, xã nào của Quảng Bình cũng được vinh dự ban tặng các sắc phong qua từng thời đại phong kiến. Trong đó, nhiều nhất là những vùng quê ở huyện Quảng Trạch, thị xã Ba Đồn, Tuyên Hóa... Không ít trong số đó vẫn tồn tại đến tận bây giờ, “thi gan cùng tuế nguyệt” và thực sự trở thành “tài sản quý” của làng, xã, dòng họ, được trao truyền, gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Theo nhà nghiên cứu Hán-Nôm Trương Quang Phúc, một trong những sắc phong có giá trị nhất của Quảng Bình chính là sắc phong thần của vua Quang Trung đối với Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn, hiện vẫn được dòng họ Trương ở Minh Lệ (Quảng Minh, thị xã Ba Đồn) lưu giữ nguyên vẹn. Viện nghiên cứu Hán-Nôm rất đề cao giá trị và ý nghĩa lịch sử của sắc phong này, bởi các dấu tích của triều đại Tây Sơn, đặc biệt là sắc phong, bút tích... ở nước ta, khá hiếm hoi do nhiều lý do khách quan của lịch sử.
Ông Trương Minh Đức (Bắc Minh Lệ, Quảng Minh, thị xã Ba Đồn), hậu duệ đời thứ 17 của Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn (Trương Đức Trọng), chậm rãi lần giở cho chúng tôi xem bản sắc phong có tuổi đời hơn 200 năm này. Trên nền giấy sắc tuy đã mục nát theo thời gian, nhưng các hoa văn và chữ vẫn rõ ràng, tươi rói, đặc biệt, dấu triện của vua Quang Trung còn rất rõ nét.
Theo gia phả của dòng họ Trương Công ở làng Minh Lệ, Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn là con trai thứ hai của ông Trương Công Lang-một vị tướng tài của Lê Lợi. Khi Lê Lợi tiến quân ra Bắc đánh đuổi quân Minh, thì ở phía Nam, quân Chiêm Thành (còn gọi là giặc Lồi) thừa cơ quấy nhiễu, cướp phá vùng biên giới, Trương Công Lang được Lê Lợi tin cậy sai đem quân vào Nam trấn thủ. Nối nghiệp cha, ông Trương Công Trấn đã lập nhiều chiến công hiển hách trong cuộc chiến chống quân Chiêm Thành. Năm 1493, trong trận chiến khốc liệt ở Thành Lồi (nay thuộc xã Hạ Trạch, Bố Trạch), ông bị trọng thương, phi ngựa về đến quê nhà ở làng Minh Lệ thì tạ thế vào ngày 24 tháng 4 năm Quý Sửu, niên hiệu Hồng Đức thứ 24. Vua Lê Thánh Tông và triều đình vô cùng thương tiếc đã sắc phong cho ông làm Thượng đẳng thần, Thành hoàng làng và cho lập đền thờ.
Theo ông Trương Minh Đức, tương truyền, ngài cùng 3 họ Nguyễn, Hoàng, Trần đã chiêu dân khai phá đầm lầy, sáng lập ra xã Thị Lệ gồm 5 thôn: Minh Lệ (Quảng Minh), thôn Đoài (Diên Trường, Quảng Sơn), Vĩnh Ninh (Hoà Ninh, Quảng Hoà), Vĩnh Phước, Vĩnh Lộc (Quảng Lộc). Trong sắc phong năm 1790, vua Quang Trung ghi nhận ông là “người đã cần mẫn tích trữ giềng mối nên ba nên năm, sẵn sàng có ngay quân ngũ cả trăm cả nghìn, đã biết giữ oai thần võ khiến cho mọi rợ nước ngoài sợ hãi; đã có công cao trong binh nghiệp mà vẫn giữ được hào khí trung trinh, đặc tính cần mẫn tỏ rõ đức độ của người rạng rỡ sâu xa; đã linh thông thống lĩnh quân dân phù hộ bao trùm tại địa phương do người được nhà vua sai khiến cai quản”. Lăng mộ và nhà thờ Trung lang Thượng tướng quân vẫn sừng sững đến tận bây giờ. Dân hai xã Quảng Minh, Quảng Hoà vẫn còn lưu truyền câu ca: “Mồng một xủi mả Tổng lang, Mồng hai xủi mả cả làng nhà ta”.
Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, hậu duệ các đời của dòng họ Trương ở Minh Lệ vẫn nỗ lực lưu giữ tấm sắc phong, cùng lăng mộ và nhà thờ của ông, như một sự tri ân nghiêm cẩn của hậu thế với công lao, đức độ to lớn của Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn.
Nằm cách làng Minh Lệ chỉ vài kilômét, đình Hòa Ninh (Quảng Hòa, thị xã Ba Đồn), ngôi đình được xây dựng từ đời vua Bảo Đại thứ 11 (1936), là một trong những đình làng hiếm hoi vẫn còn lưu giữ hơn 10 sắc phong của triều đình nhà Nguyễn. Theo ông Đoàn Tiến Lực (80 tuổi, Vĩnh Phú, Quảng Hòa), người dành nhiều thời gian nghiên cứu về các đạo sắc phong “báu vật của làng”, làng Hòa Ninh xưa có cả thảy 13 sắc phong, nhưng hiện chỉ giữ được 11 sắc phong, trong đó, chỉ đọc và dịch được 10 sắc phong.
Các sắc phong cùng đình Hòa Ninh là biểu tượng cho truyền thống hiếu học với nhiều nhân tài đỗ đạt khoa bảng của vùng quê ven bờ sông Gianh lịch sử này. Khoảng trên dưới chục năm nay, những sắc phong được chuyển dời từ đình Hòa Ninh sang bảo quản tại phòng Văn hóa-Xã hội của UBND xã Quảng Hòa. Trong một ống tre nhỏ, vẻn vẹn 11 đạo sắc phong được bày ra trước mắt vàng ánh cả một góc phòng. Bên cạnh một vài sắc phong còn nguyên lành, không ít sắc phong đã bị rách mục, màu mực và giấy đã ngả màu thời gian.

Ông Trương Minh Đức (Bắc Minh Lệ, Quảng Minh, TX.Ba Đồn), hậu duệ đời thứ 17 của
Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn, hiện giữ sắc phong hơn 200 năm tuổi của vua Quang Trung
Các đạo sắc phong của vua Tự Đức năm 1852 và năm 1874, vua Đồng Khánh năm 1887 phong thần cho thành hoàng làng. Vua Thành Thái, vua Duy Tân, vua Khải Định cũng nhiều sắc phong cho những người con ưu tú, có nhiều công lao cho làng nước thành “Trung đẳng thần”, “Thượng đẳng thần”. Riêng vua Khải Định đã bốn lần cấp sắc phong cho làng Hòa Ninh, trong đó, nổi bật với sắc phong cho vị tiến sĩ Nguyễn Sum nổi tiếng “thanh liêm chính trực’, có công vệ quốc, an dân và sắc phong cho ông Tùng Giang Văn Trung là “Trung đẳng thần là Thành hoàng làng”.
Điều kỳ lạ là vùng đất Quảng Bình còn sản sinh những nhân vật kiệt xuất, để tài đức, công thần của họ vẫn còn lưu giữ qua nhiều triều đại phong kiến, cho dù các triều đại đó có đối địch nhau như thế nào. Thành hoàng làng Tiên Lệ Đoàn Đức Mậu (Quảng Tiên, thị xã Ba Đồn) là một trong những người con ưu tú đó. Theo gia phả dòng họ Đoàn làng Tiên Lệ, ông Đoàn Đức Mậu là con thứ hai của Quản Giáp Nghi Trung Bá. Thuở nhỏ, ông rèn luyện võ nghệ, tuổi nhỏ tài cao, có tài bơi lội hơn người.
Dưới thời vua Lê Trung Tông, với diện mạo khôi ngô, thân tài hùng dũng, ba quân không đối địch được, ông đã hộ giá đánh tan quân Mạc, được phong là An Cảo Bá, giữ chức Phủ vệ hầu, sau đó, ông tiếp tục được phong làm Hậu nội thủy cơ-Phó tướng lãnh đô đốc phủ-Tả đô đốc Lập quận công. Dưới thời vua Lê Thế Tông, ông lập công lớn được phong “Thái tử Thái bảo”, lấy tước quan văn phong cho quan võ để thấy được công lao to lớn của ông với triều đình, với dân với nước.
Ông qua đời ngày 16 tháng 8 năm Tân Sửu (1601) trong niềm tiếc thương vô hạn của vua Lê Kính Tông. Vua đã sắc phong cho ông là “Bản cảnh thành hoàng đại vương, quảng hậu chính trực, hữu thiện đông ngưng, dục bảo trung hưng, lệ phong đăng trật tôn thần”. Đến đời nhà Nguyễn, cảm phục trước người con kiệt xuất của làng Tiên Lệ, vua Tự Đức và vua Khải Định đều có sắc phong cho ông. Ông Đoàn Như Kiệt (80 tuổi, Quảng Tiên), hậu duệ của dòng họ Đoàn ở làng Tiên Lệ, hiện đang lưu giữ nguyên vẹn hai đạo sắc phong của nhà Nguyễn, còn đạo sắc phong của nhà Lê nay đã thất truyền.
Những câu chuyện ly kỳ về các sắc phong ở Quảng Bình có lẽ sẽ còn nối dài mãi, đó là các sắc phong của vua triều Nguyễn cho một người không phải là quan lại, nhưng có công khai phá ruộng nương, gây dựng xóm làng thành “Thượng đẳng thần” độc nhất vô nhị ở làng Lệ Sơn (Văn Hóa, Tuyên Hóa); hay 8 sắc phong của vua triều Nguyễn cho Tuần vũ Lê Di (Văn Hóa, Tuyên Hóa)...
Chúng là minh chứng cho bề dày trầm tích lịch sự, văn hóa giàu truyền thống của vùng đất nắng cháy miền Trung này. Những sắc phong quý giá tiếp tục được bảo tồn qua các dòng họ, làng, xã, nơi chúng được sinh ra, nhưng vẫn luôn chờ đợi các cuộc khám phá sâu rộng hơn của đội ngũ chuyên gia nghiên cứu, để từ đó, nhiều phát kiến, giá trị mới sẽ được khơi mở, làm giàu thêm truyền thống tốt đẹp của mỗi một làng quê.
Mai Nhân - Nguồn: Báo Quảng Bình 

Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 15 Tháng 10 2016 04:37 )
 

Những ngôi làng đặc biệt: Đệ nhất bát danh hương

Email In PDF.
Không có của ngon vật lạ hay danh nhân kiệt xuất nhưng làng Lệ Sơn, xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa vẫn được phong là “đệ nhất bát danh hương” của đất Quảng Bình
Truyền thuyết 99 ngọn núi
Ông Trần Xuân Quế (75 tuổi, người làng Lệ Sơn) tự hào khoe vùng đất Lệ Sơn là một kiệt tác kỳ công của tạo hóa. Làng đứng đầu trong số 8 ngôi làng nổi tiếng nhất tỉnh Quảng Bình gồm: Sơn - Hà - Cảnh - Thổ - Văn - Võ - Cổ - Kim (Lệ Sơn, La Hà, Cảnh Dương, Thổ Ngoạn, Văn Hóa, Võ Xá, Cổ Hiền, Kim Nại) nên được mệnh danh là “Đệ nhất bát danh hương”.
Là một cựu giáo chức, ông Quế kể rằng ngôi làng này không chỉ nổi tiếng bởi sự hiếu học mà còn lưu truyền hàng chục câu chuyện cổ tích về địa danh, quá trình hình thành làng. Đã có rất nhiều bài thơ, bài ca ra đời ca tụng làng Lệ Sơn. Quanh các ngọn núi cũng có hàng chục câu chuyện kỳ lạ.
Làng Lệ Sơn tựa bên dãy núi đá vôi có 99 ngọn kéo dài 4 km, mặt trước bao bọc bởi dòng sông Gianh thơ mộng. Từ đầu tới cuối làng là con đường đầy bóng tre xanh trải dài theo mép sông. Phong cảnh Lệ Sơn được một người con xa xứ họa bằng thơ rằng: Sông trong in thẳm da trời/Chập chùng núi biếc, ngời ngời trăng thanh.

Ông Trần Xuân Quế ngâm nga những câu thơ viết về Lệ Sơn
Người dân nơi đây thường truyền tai nhau truyền thuyết về đàn chim phượng hoàng và 99 ngọn núi. Vào một chiều xuân, 100 con phượng hoàng trên đường bay từ Bắc vào Nam, khi tới vùng Lệ Sơn đã không cưỡng lại được vẻ đẹp của mảnh đất này. Bầy chim chao lượn rồi định dừng chân trên những ngọn núi sau làng để “thưởng thức”.
Tiếc thay, Lệ Sơn chỉ có 99 ngọn núi mà có đến 100 chim phượng hoàng. Thế là, một con loay hoay mãi không tìm ra chỗ đậu nên đàn chim đành phải ngắm nghía ngôi làng rồi bay tiếp. Sau này, 99 ngọn núi cứ cao dần lên, không chỉ che bão táp, nắng nóng mà còn tạo nên một dãy núi cao, đẹp bao bọc, bảo vệ làng.
Vua Hàm Nghi cũng từng chọn Lệ Sơn làm nơi nghỉ chân trên đường chạy ra Hà Tĩnh để trốn giặc Pháp truy đuổi. Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, quân đội ta đã chọn 99 ngọn núi chạy dọc làng làm căn cứ cách mạng.
Những đỉnh Thanh Tuyền, Vũ Tọa, Thi Đầu, Họa Các, Bài Phong… ngày xưa được dân làng làm vọng gác đánh tàu chiến của Pháp từ Ba Đồn lên càn quét. Hang Lụy, hang Ong là căn cứ của Quân y 108 - nơi chữa bệnh, an dưỡng cho bộ đội trước khi quay lại chiến đấu.
99 ngọn núi không chỉ che chở cho bộ đội và người dân những năm chống giặc ngoại xâm mà theo ông Nguyễn Văn Huyền, một người dân trong làng, đây còn là nơi tránh lũ. Bao năm qua, Lệ Sơn không phải chịu sự tàn phá của bão lũ cũng như cái nắng, cái gió gay gắt của miền Trung. “Lệ Sơn như một vùng trời riêng ở miền Trung. Quanh năm không khí trong lành, người dân ai cũng sống thọ…” - ông Huyền kể.
Lấy học vấn làm đầu
Chúng tôi tìm về Lệ Sơn khi năm học mới đã bắt đầu. Không còn cảnh học sinh lụy đò bởi cây cầu mới bắc qua sông Gianh ở xã Văn Hóa vừa khánh thành. Dọc các con đường, những tà áo trắng tung tăng dưới bóng tre yên ả. Tinh thần hiếu học ở làng này được ông Trần Xuân Quế ví von: “Nhiều người làng bên thường bảo làng Lệ Sơn có mỏ vàng. Ý người ta muốn nói rằng nơi đây sinh ra nhiều người tài”.

Những ngọn núi vôi hùng vĩ, yên bình bao bọc làng Lệ Sơn
Để động viên con cháu cố gắng học hành, ngày xưa, các cụ lớn tuổi trong làng thường bảo: Đây là vùng đất linh, tiên thường giáng trần. Nếu em nào cần cù học tập ắt sẽ thành công. Cũng vì thế mà truyền thống hiếu học nơi đây được gìn giữ từ đời này sang đời khác. Ông Quế nhớ lại: “Khi tôi còn bé, cứ mỗi khi đêm về, các thầy lại đánh trống báo hiệu giờ học. Họ đi quanh làng thúc giục, động viên học sinh học bài”.
Ông Hoàng Đình Bá, Chủ tịch Hội Khuyến học xã Văn Hóa, cho biết trong năm học này, toàn xã có 26 em đỗ vào các trường ĐH trên toàn quốc. Còn trong 5 năm trở lại đây, làng Lệ Sơn có 146 em thi đỗ ĐH, CĐ. Hằng năm, vào ngày 26 tháng chạp âm lịch, làng Lệ Sơn lại mở hội trao thưởng cho các em đỗ ĐH, CĐ và những học sinh đạt thành tích xuất sắc. Đây là dịp các em về quê nghỉ Tết cổ truyền; dân làng mới có điều kiện gặp gỡ, động viên. Ngoài ra, 10 dòng họ ở làng còn tổ chức lễ trao học bổng riêng. Con em ở Lệ Sơn luôn lấy sự học làm đầu.
“Đây là vùng đất nghèo, ai ai cũng ráng học để sau này bớt khổ. Từ xa xưa, vùng đất này có nhiều nhà nho dạy chữ, truyền thống hiếu học của con em trong làng đã được các tiền nhân vun đắp” - ông Bá lý giải.
Làng có gần 1.000 nhà giáo
Ông Nguyễn Văn Hà, người dân làng Lệ Sơn, tự hào cho biết: Năm nào làng cũng có vài chục em đậu đại học. Hiện có trên 150 người là nhà giáo về hưu và gần 1.000 nhà giáo đang giảng dạy trên cả nước. Đặc biệt, nhiều gia đình có từ 2-3 người làm nghề giáo. Trong làng cũng có rất nhiều người có học hàm, học vị giáo sư, tiến sĩ”.
Bài và ảnh: QUANG NHẬT
Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 11 Tháng 10 2016 04:21 )
 

Lệ Sơn - Đệ nhất bát danh hương

Email In PDF.
Tiết mục ca trù của đội văn nghệ xã Quảng Tùng tại liên hoan các câu lạc bộ dân gian huyện Quảng Trạch
Không di tích, không của ngon vật lạ, không người kiệt xuất, nhưng ngôi làng heo hút phía tây Quảng Bình được chọn xếp đầu chỉ vì một chữ: học!
Tôi thật bất ngờ khi ông Lương Xuân Quế, chủ tịch xã Văn Hóa, Tuyên Hóa, cho biết cả làng Lệ Sơn chỉ có 3.500 nhân khẩu nhưng theo thống kê chưa đầy đủ thì có đến 800 người làm nghề dạy học, từ cấp I cho đến đại học, ở khắp các tỉnh thành trong cả nước. Một phần tư dân số của một làng làm nghề dạy học - một tỉ lệ khó có địa phương nào đạt được!
Đang là mùa hè nhưng đi khắp những con đường làng của Lệ Sơn. Hầu như không thấy bóng trẻ con chạy rông, nô đùa. Một chị bán nước ven đường làng bảo: “Không học ở trường thì học ở nhà, chỉ đến chiều mới được rong chơi thôi anh ạ”. Khi vào thăm nhà ông Lương Ngọc Đệ, nguyên giám đốc Sở Giáo dục - đào tạo Quảng Bình, một ông giáo hưu 76 tuổi, tôi bắt gặp hình ảnh ông đang dạy học cho hai đứa cháu nhỏ. Ông Đệ cười rất tươi và bảo: “Tôi hưu nhà nước chứ chưa hưu nghề đâu cậu ạ. Nghề cứ theo mình đi cho đến hết cuộc đời. Ở làng có đến 107 ông giáo già hưu trí như tôi, chúng tôi phân công mỗi người phải kèm một số cháu, người còn sức thì kèm cấp cao, người đã yếu thì cấp thấp, không lương bổng, phụ cấp gì cả, đó là trách nhiệm!”.
Hơn 500 năm qua làng Lệ Sơn vẫn bé tẹo như thuở lập đất, diện tích rừng có đến 777ha so với diện tìch trồng trọt là 300ha, cái đói cứ chờ chực quanh năm mỗi khi sông Gianh dựng sóng. Nhưng đối với người Lệ Sơn thì cái ăn còn có thể dừng chứ chuyện học thì không. Họ không chỉ động viên nhau bằng lời nói mà còn bằng một hệ thống khuyến học độc đáo chưa từng có. Theo ông Đệ, ngoài hệ thống quĩ khuyến học của xã do chính quyền tổ chức, ở các thôn, các họ đều đã lập quĩ khuyến học riêng như thôn Trung Làng, Phức Tự, Đình Miễu đã xây dựng quĩ khuyến học từ hơn hai năm qua, thôn ít thì vài triệu, thôn nhiều thì chục triệu... Do số lượng các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn nhưng hiếu học ở Lệ Sơn nhiều quá, mỗi suất hỗ trợ từ xã từ thôn chỉ khoảng vài chục đến trăm ngàn, nên các họ lớn trong làng tự nguyện lập quĩ khuyến học riêng, như các họ Lê, Nguyễn, Lương, Phan, Phạm... đều đã có quĩ riêng. Đặc biệt họ Lê là họ đại tôn trong làng hiện có tổng quĩ lên đến vài chục triệu đồng để hỗ trợ các em học sinh trong họ đi học.
Ông Lương Ngọc Đệ tâm sự: “Ngày trước chúng tôi đi học còn khó gấp trăm lần bây giờ, không có tiền vào Huế học phải cậy nhờ bà con bên Lào đón sang học, vì từ đây sang Lào còn gần hơn về kinh đô, đi bộ hàng trăm cây số, học xong mới được về làng, vậy mà lâu lâu người làng cũng lặn lội sang gửi cho chút gạo, chút muối rang để duy trì sự học. Mỗi lần ở làng có em nào biếng học hoặc lơ là chuyện học mà lo kiếm tiền thì chính những cụ già sang nhà tâm sự. Những câu chuyện về ông Vĩnh Tường ngày xưa nghèo đến mức nhà không có tiền đi học, phải vừa đi chăn bò vừa học lóm, vậy mà hằng đêm ông đi lượm chân nhang về hang đá của dãy núi Giăng Màn tự học, sau đỗ cử nhân; hay anh em nhà Lê Thời Tập, nghèo đến mức không có được bộ quần áo lành để mặc, vậy mà khoa thi năm 1829 người anh đậu ngôi đầu và người em ngôi á nguyên...”.
Tôi theo ông Đệ ra khu mộ tổ họ Lương sát trong dãy núi Giăng Màn để họp tộc. Ở Lệ Sơn có tục mỗi khi họp tộc hay bàn chuyện đại sự có liên quan đến cả tộc thì phải họp tại mộ tổ như một cách thể hiện sự quyết tâm, cam kết trong cộng đồng. Hôm nay họ Lương họp bàn chuyện nâng cao quĩ khuyến học của tộc để theo kịp họ Lê, vì tuy không phải họ đại tôn nhưng họ Lương ở Lệ Sơn cũng đã “góp” cho nước nhà khá nhiều tiến sĩ, giáo sư, nay còn một số em có ước nguyện học lên cao nên cần sự hỗ trợ nhiều hơn nữa. Bà con ai nấy đồng lòng. Nghe họ Lương họp tộc, họp vì chuyện học cho con cháu mà thấy nghiêm trang hơn cả người ta tổ chức đại hội, có ghi biên bản rõ ràng, mục đích cụ thể, thời điểm hoàn thành. Ông Đệ kể: “Vừa rồi có một bà làm dâu họ Lê, tuổi đã hơn 90, sống bên Pháp gần nửa đời người, nay theo di chúc người chồng đã khuất gửi về nước tặng quĩ khuyến học họ Lê 40 triệu đồng. Ở đây chuyện học và dồn sức cho lớp trẻ học là một nghĩa vụ rất thiêng liêng...”.
Thầy Lê Đức Thiết, hiệu trưởng trường THCS của làng, sau khi đưa tôi đi thăm mộ bản thổ thành hoàng làng về đã tâm sự: “Ở cái đất mà thầy nhiều hơn thợ lắm khi cũng có cái khổ riêng. Vừa rồi thầy học của tôi nhờ tìm một số thợ để sửa nhà, tìm mãi cả làng không ra một thợ hồ, đành phải ra tận Ba Đồn rước thợ vào làm!”. Trên đường về làng tôi gặp ba cha con anh Nguyễn Thụ, một người chuyên nghề vớt củi trên sông mưu sinh, con người tưởng chừng cả đời lam lũ vậy mà đã tốt nghiệp cấp III. Hai đứa con nhỏ xíu ốm nhom vì thiếu ăn cũng đang học lớp 1 và 2. Anh Thụ nói: “Ở làng này có đói cũng không ai khinh, nhưng thiếu chữ thì gay lắm, không dám nhìn mặt ai...”. Năm học 2001-2002 cả làng Lệ Sơn có đến 65% học sinh THCS đậu vào trường THPT công lập và 25% đậu vào dân lập, 10% còn lại đi học nghề hoặc đi tìm việc làm xa xứ.
Theo những khảo cứu của cụ Nguyễn Tú thì Lệ Sơn (Tuyên Hóa, Quảng Bình) không có người đỗ đạt cao trong các khoa thi, không có nhiều người ra làm quan to trong triều như nhiều làng khác như Thổ Ngoạn, La Hà... nhưng người xưa đã chọn Lệ Sơn ghi danh vào sử sách vì tuy là một làng cách biệt miền sơn cước nhưng Lệ Sơn từ xưa đã có trình độ dân trí rất cao. Hầu như tất cả nam phụ lão ấu của làng đều tinh thông Tam tự kinh và Minh tâm bảo giám - một bước tiên tiến của người xưa đánh giá nền học vấn không căn cứ vào học vị, bằng cấp mà bằng trình độ dân trí của toàn dân. Từ thuở ban sơ Lệ Sơn đã được xem như xóa nạn mù chữ hoàn toàn từ trong xã hội phong kiến (trước Cách mạng Tháng 8-1945 cả nước có tới 80% dân số mù chữ - NV).
Có một ngôi làng miền sơn cước lưng tựa vào 99 ngọn núi, mặt hướng ra dòng sông Gianh cuồn cuộn sóng vỗ. Độc đạo vào làng chỉ là một con đò ngang cách trở, nhưng từ hàng trăm năm trước ngôi làng này đã được xếp vào hàng đầu trong tám ngôi làng nổi danh văn vật nhất đất Quảng Bình - đệ nhất bát danh hương: Sơn - Hà - Cảnh - Thổ - Văn - Võ - Cổ - Kim (Lệ Sơn, La Hà, Cảnh Dương - Thổ Ngoạn, Văn Hóa, Võ Xá, Cổ Hiền, Kim Nại).
BINH NGUYÊN (Tuổi trẻ)
Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 07 Tháng 10 2016 04:22 )
 

Tổng quan về Quảng Bình

Email In PDF.
Tỉnh Quảng Bình nằm ở Bắc Trung Bộ, Việt Nam, với diện tích tự nhiên 8.065 km2, dân số năm 2014 có 868.174 người.
Vị trí địa lý: Toạ độ địa lý ở phần đất liền là:
• Điểm cực Bắc: 18005’ 12" vĩ độ Bắc 
• Điểm cực Nam: 17005’  02" vĩ độ Bắc 
• Điểm cực Đông: 106059’ 37" kinh độ Đông 
• Điểm cực Tây: 105036’ 55" kinh độ Đông
Thành phố Đồng Hới hôm nay
Tỉnh có bờ biển dài 116,04 km ở phía Đông và có chung biên giới với Lào 201,87 km ở phía Tây, có cảng Hòn La, cảng Hàng không Đồng Hơi, Quốc lộ 1A và đường Hồ Chí Minh, đường sắt Bắc Nam, quốc lộ 12 và tỉnh lộ 20, 16 chạy từ Đông sang Tây qua cửa khẩu Quốc tế Cha Lo và một số cửa khẩu phụ khác nối liền với Nước CHDCND Lào.
Địa hình: Địa hình Quảng Bình hẹp và dốc từ phía Tây sang phía Đông. 85% Tổng diện tích tự nhiên là đồi núi. Toàn bộ diện tích được chia thành vùng sinh thái cơ bản: Vùng núi cao, vùng đồi và trung du, vùng đồng bằng, vùng cát ven biển.
Khí hậu: Quảng Bình nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa và luôn bị tác động bởi khí hậu của phía Bắc và phía Nam và được chia làm hai mùa rõ rệt:
+ Mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm 2.000 - 2.300mm/năm. Thời gian mưa tập trung vào các tháng 9, 10 và 11.
+ Mùa khô từ tháng 4 đến tháng 8 với nhiệt độ trung bình 24oC - 25oC. Ba tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 6, 7 và 8.
Tài nguyên đất: Tài nguyên đất được chia thành hai hệ chính: Đất phù sa ở vùng đồng bằng và hệ pheralit ở vùng đồi và núi với 15 loại và các nhóm chính như sau: nhóm đất cát, đất phù sa và nhóm đất đỏ vàng. Trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm hơn 80% diện tích tự nhiên, chủ yếu ở địa hình đồi núi phía Tây, đất cát chiếm 5,9% và đất phù sa chiếm 2,8% diện tích.
Tài nguyên động, thực vật: Quảng Bình nằm trong khu vực đa dạng sinh học Bắc Trường Sơn - nơi có khu hệ thực vật, động vật đa dạng, độc đáo với nhiều nguồn gen quý hiếm. Đặc trưng cho đa dạng sinh học ở Quảng Bình là vùng Karst Phong Nha - Kẻ Bàng.
Về động vật có: 493 loài, 67 loài thú, 48 loài bò sát, 297 loài chim, 61 loài cá... có nhiều loài quý hiếm như Voọc Hà Tĩnh, Gấu, Hổ, Sao La, Mang Lớn, Gà Lôi lam đuôi trắng, Gà Lôi lam mào đen, Trĩ...
Đêm Đồng Hới
Về đa dạng thực vật: Với diện tích rừng 486.688 ha, trong đó rừng tự nhiên 447.837 ha, rừng trồng 38.851ha, trong đó có 17.397 ha rừng thông, diện tích không có rừng 146.386 ha. Thực vật ở Quảng Bình đa dạng về giống loài: có 138 họ, 401 chi, 640 loài khác nhau. Rừng Quảng Bình có nhiều loại gỗ quý như lim, gụ, mun, huỵnh, thông và nhiều loại mây tre, lâm sản quý khác. Quảng Bình là một trong những tỉnh có trữ lượng gỗ cao trong toàn quốc. Hiện nay trữ lượng gỗ là 31triệu m3.
Tài nguyên biển và ven biển: Quảng Bình có bờ biển dài 116,04 km với 5 cửa sông, trong đó có hai cửa sông lớn, có cảng Nhật Lệ, cảng Gianh, cảng Hòn La, Vịnh Hòn La có diện tích mặt nước 4 km2, có độ sâu trên 15 mét và xung quanh có các đảo che chắn: Hòn La, Hòn Cọ, Hòn Chùa có thể cho phép tàu 3-5 vạn tấn vào cảng mà không cần nạo vét. Trên đất liền có diện tích khá rộng (trên 400 ha) thuận lợi cho việc xây dựng khu công nghiệp gắn với cảng biển nước sâu.
Bờ biển có nhiều thắng cảnh đẹp, cùng với thềm lục địa rộng gấp 2,6 lần diện tích đất liền tạo cho Quảng Bình có một ngư trường rộng lớn với trữ lượng khoảng 10 vạn tấn và phong phú về loài (1650 loài), trong đó có những loại quý hiếm như tôm hùm, tôm sú, mực ống, mực nang, san hô. Phía Bắc Quảng Bình có bãi san hô trắng với diện tích hàng chục ha, đó là nguồn nguyên liệu quý cho sản xuất hàng mỹ nghệ và tạo ra vùng sinh thái của hệ san hô. Điều đó cho phép phát triển nền kinh tế tổng hợp vùng ven biển.
Mặt nước nuôi trồng thuỷ sản: Với 5 cửa sông, Quảng Bình có vùng mặt nước có khả năng nuôi trồng thuỷ sản khá lớn. Tổng diện tích 15.000 ha. Độ mặn ở vùng mặt nước từ cửa sông vào sâu khoảng 10-15km giao động từ 8-30%o và độ pH từ 6,5- 8 rất thuận lợi cho nuôi tôm cua xuất khẩu. Chế độ bán nhật triều vùng ven biển thuận lợi cho việc cấp thoát nước cho các ao nuôi tôm cua.
Tài nguyên nước: Quảng Bình có hệ thống sông suối khá lớn với mật độ 0,8 - 1,1 km/km2. Có năm sông chính là sông Roòn, sông Gianh, sông Lý Hoà, sông Dinh và sông Nhật Lệ. Có khoảng 160 hồ tự nhiên và nhân tạo với dung tích ước tính 243,3 triệu m3.
Tài nguyên khoáng sản: Quảng Bình có nhiều loại khoáng sản như vàng, sắt, titan, pyrit, chì, kẽm... và một số khoáng sản phi kim loại như cao lanh, cát thạch anh, đá vôi, đá mable, đá granit... Trong đó, đá vôi và cao lanh có trữ lượng lớn, đủ điều kiện để phát triển công nghiệp xi măng và vật liệu xây dựng với quy mô lớn. Có suối nước khoáng nóng 105oC. Trữ lượng vàng tại Quảng Bình có khả năng để phát triển công nghiệp khai thác và chế tác vàng.
Đồng bào Vân Kiều chăm sóc lạc
Dân số và lao động: Dân số Quảng Bình năm 2014 có 868.174 người. Phần lớn cư dân địa phương là người Kinh. Dân tộc ít người thuộc hai nhóm chính là Chứt và Bru-Vân Kiều gồm những tộc người chính là: Khùa, Mã Liềng, Rục, Sách, Vân Kiều, Mày, Arem, v.v... sống tập trung ở hai huyện miền núi Tuyên Hoá và Minh Hoá và một số xã miền Tây Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thuỷ. Dân cư phân bố không đều, 80,47% sống ở vùng nông thôn và 19,53% sống ở thành thị.
Văn hoá và tiềm năng du lịch: Dãi đất Quảng Bình như một bức tranh hoành tráng, có rừng, có biển với nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, thắng cảnh nổi tiếng: đèo Ngang, đèo Lý Hoà, cửa biển Nhật Lệ, phá Hạc Hải, Cổng Trời… và Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng được công nhận là Di sản Thiên nhiên thế giới.
Quảng Bình là vùng đất văn vật, có di chỉ văn hoá Bàu Tró, các di chỉ thuộc nền văn hoá Hoà Bình và Đông Sơn, nhiều di tích lịch sử như: Quảng Bình Quan, Luỹ Thầy, Rào Sen, Thành Nhà Ngo, thành quách của thời Trịnh - Nguyễn, nhiều địa danh nổi tiếng trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc như Cự Nẫm, Cảnh Dương, Cha Lo, Cổng Trời, Xuân Sơn, Long Đại, đường Hồ Chí Minh v.v... Trong quá trình lịch sử, đã hình thành nhiều làng văn hoá nổi tiếng và được truyền tụng từ đời này sang đời khác như “Bát danh hương”: “Sơn- Hà- Cảnh - Thổ- Văn- Võ- Cổ - Kim”. Nhiều danh nhân tiền bối học rộng, đỗ cao và nổi tiếng xưa và nay trên nhiều lĩnh vực quân sự, văn hoă - xã hội như Dương Văn An, Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Hàm Ninh, Hoàng Kế Viêm, Võ Nguyên Giáp...
Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 03 Tháng 10 2016 15:24 )
 
Trang 10 trong tổng số 106 trang.
Bạn đang ở: Trang chủ