Tin tức - Sự kiện

Lịch âm dương

Xem tin theo ngày

< Tháng 8 2018 >
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31    

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay392
mod_vvisit_counterHôm qua1266
mod_vvisit_counterTuần này392
mod_vvisit_counterTuần trước15556
mod_vvisit_counterTháng này86336
mod_vvisit_counterTháng trước91714
mod_vvisit_counterTất cả4586520

Có: 19 khách trực tuyến

Tin tức - Sự kiện

Gặp người hùng giữa đêm chèo thuyền vượt lũ đi cứu người

Email In PDF.
 Dân trí    Trong đêm tối, lũ từ thượng nguồn sông Gianh đổ về cuồn cuộn, nước dâng lên tận nóc nhà khiến nhiều người dân ở xã Phù Hoá, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình không kịp trở tay. Giữa bốn về biển nước hung dữ, anh Tâm ở thôn Long Châu, xã Phù Hoá cùng con trai đã chèo thuyền đi cứu được 15 người mắc kẹt trên mái nhà.
“Thấy họ gặp nạn thì mình đi cứu thôi!”
Lũ vừa rút, chúng tôi về thôn Long Châu, xã Phù Hoá, một trong những địa phương bị ngập sâu nhất trong trận lũ lịch sử vừa qua và nghe câu chuyện đầy cảm động về người hùng trong cơn lũ dữ là anh Hoàng Văn Tuân (SN 1974) cùng con trai là Hoàng Văn Nam (SN 1998), vừa cứu sống 15 người dân trong cơn lũ.
Gặp chúng tôi, nhắc đến chuyện cứu người trong đêm lũ, anh Tâm khiêm tốn cười: "Có chi mô chú! Cùng là dân vùng lũ, thấy người gặp nạn thì cứu giúp thôi!”.
Anh Tâm kể, hôm đó khoảng 21h30 ngày 14/10, xã Phù Hóa bị cô lập hoàn toàn, nước ngập tận nóc nhà nhưng nước lũ vẫn chảy về kinh khủng. Thấy vậy, anh cùng vợ và hai người con phải bỏ nhà lên chiếc thuyền của gia đình đi tránh lũ.
Ngay lúc đó, anh Tậm nhận được điện thoại của mấy anh trên xã kêu đi cứu người đang mắc kẹt trên mái nhà. Không ngần ngại, anh cùng con trai lên thuyền đi ngay.

Người hùng Hoàng Văn Tâm trên chiếc thuyền cứu sống 15 người trong cơn lũ dữ (Ảnh: Phú Dương)
Nhớ lại hôm chồng đi cứu người giữa trận lũ kinh hoàng trong đêm, chị Nguyễn Thị Huyền (SN 1976, vợ anh Tâm) vẫn chưa hết hãi hùng kể: “Lúc nớ tui đắn đo lắm, không muốn cho anh đi mô, bởi lũ kéo về khủng khiếp quá, nhưng anh nói không có chi mô, hai mẹ con ngủ trước, hai cha con đi cứu người một lúc rồi về”. Dù được anh Tâm trấn an vậy, nhưng trong lòng chị Huyền cứ thấp thỏm, đứng ngồi không yên.
Nói rồi anh Tâm cùng con trai vượt qua dòng nước chảy xiết khoảng hai cây số, mất cả tiếng đồng hồ mới đến được trung tâm UBND xã. Sau đó, anh Tâm cùng hai cán bộ công an xã và huyện lên thuyền đến những nhà có người đang bị mắc kẹt để cứu.
Trong đêm hôm đó, anh cùng con trai đã cứu được 8 người đang tuyệt vọng ngồi trên mái nhà và đến rạng sáng hôm sau, thuyền của anh cứu thêm được 7 người.
"Khi nớ tui chỉ nghĩ là đi cứu người chứ có nghĩ đến nguy hiểm là chi mô, nhưng giờ nhớ lại vẫn còn cảm thấy ớn trong người. Chỉ cần sơ suất nhỏ, vướng vô ngọn tre là lật thuyền ngay. Cũng may có con trai đi cùng chứ chắc tui là không đủ sức để mà chèo", anh Tâm kể mà người vẫn còn run.
Đây không phải là lần đầu anh Tâm vượt lũ đi cứu người. Trước đó, trận lũ năm 2007, anh Tâm cũng cứu được chị Thơm, nhà ở thôn Cấp Sơn, xã Cảnh Hóa. Lúc đó, nhà chị Thơm bị sập, tấm fibro xi măng rơi trúng đầu khiến chị mất nhiều máu. Trong đêm tối, nước lũ kinh hoàng, không biết cầu cứu ai, chị may mắn được anh Tâm chèo thuyền đến chở đi trạm xá cấp cứu kịp thời.
"Được anh Tâm cứu rồi mà nước mắt cứ chảy mãi..."
Là một trong số những người được anh Tâm cứu, chị Hoàng Thị Lan (SN 1986) ở thôn Trường Sơn, xã Phù Hóa vẫn chưa hết bàng hoàng kể lại, lúc đó, khoảng 9h tối, nước ngập vào nhà dâng cao hơn 3m, hai vợ chồng chị phải bồng 2 đứa con, dỡ mái ngói, trèo lên nóc nhà rồi gọi xã cầu cứu. Một lúc sau thì được thuyền của anh Tâm đến ứng cứu kịp thời.
"Khi nớ vợ chồng tui rất hoang mang và lo sợ, bởi hai vợ chồng có thể còn bơi được nhưng hai đứa con nhỏ thì không biết làm răng cả. Điện lên xã thì họ bảo cố gắng chờ thêm lát nữa, trong khi nước lũ cứ không ngừng dâng lên. Hai vợ chồng đang lúc tuyệt vọng nhất thì được thuyền của anh Tâm tới vớt cả nhà lên trú tạm tại trạm y tế xã. Lúc đó trời mưa to, tui đang hoảng quá, được cứu rồi mà nước mắt cứ chảy mãi. Nói thiệt, không có anh Tâm thì không biết giờ gia đình tui như răng nữa!”, chị Lan xúc động nhớ lại giây phút được cứu thoát giữa dòng nước dữ.

Chị Hoàng Thị Lan gặp lại ân nhân của mình (Ảnh: Phú Dương)
Không chỉ gia đình chị Lan, ở xã Phù Hoá, 14 gia đình khác cũng đang coi cha con anh Tâm là ân nhân cứu mạng.
Trao đổi với chúng tôi, ông Hoàng Thanh Hương, Chủ tịch UBND xã Phù Hóa nhớ lại, thời điểm đó, toàn xã đã bị cô lập hoàn toàn. Cứu người dân lúc gặp nạn là trách nhiệm của anh em cán bộ xã nhưng nếu không có anh Tâm nhiệt tình, quên mình vượt lũ cứu người thì hậu quả không biết sẽ đến như thế nào nữa. Tấm gương của anh Tâm xứng đáng được biểu dương, cảm phục!
Phú Dương - Đặng Tài 
Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 31 Tháng 10 2016 14:21 )
 

Lũ lịch sử ở Quảng Bình: Chìm hàng ngàn ngôi nhà, 5 người chết và mất tích

Email In PDF.
 
Lũ khiến hàng ngàn nhà dân bị ngập và chìm trong biển nước
Đến sáng nay (15-10), mưa vẫn ồ ạt kéo dài làm nhiều thôn, bản ở Quảng Bình bị nhấn chìm trong biển nước, giao thông tiếp tục chia cắt, người dân cô lập hoàn toàn.
Ghi nhận của phóng viên Báo Người Lao Động vào sáng 15-10 tại Quảng Bình, mưa lớn trên diện rộng, nước lũ ở thượng nguồn đổ về khiến hàng ngàn căn nhà ven sông Gianh ở các huyện Tuyên Hóa, Quảng Trạch, Thị xã Ba Đồn và sông Son (huyện Bố Trạch) chìm trong lũ dữ.
7 giờ sáng tại nhiều địa phương trong đó có xã Quảng Hải, Quảng Lộc, Quảng Minh… (thị xã Ba Đồn), Quảng Thanh, Quảng Trường, Phù Hóa của huyện Quảng Trạch đã có trên 3.000 căn nhà của nhiều hộ dân bị ngập sâu, có một số nhà bị ngập tới nóc. Đường sá nơi đây bị tê liệt hoàn toàn, người dân buộc phải dùng thuyền thúng để di chuyển.
Ông Cao Xuân Lực, một người dân xã Liên Trạch (huyện Bố Trạch), bộc bạch: “Người dân chúng tôi đã trải qua đêm thức trắng với nước trên đầu, nước dưới chân phải cố thủ trên nóc nhà. Chưa bao giờ tôi thấy nước lũ dâng cao như hiện nay, nhà tôi tan tành cả rồi”
Tại Tuyên Hóa có khoảng 3.000 nhà dân bị ngập sâu, có nhiều nhà bị lũ quét gây hư hỏng. Có khoảng 300 phòng học bị nhấn chìm trong lũ, đặc biệt ở các xã Đức Hóa, Phong Hóa, Văn Hóa… Quốc lộ 12A qua xã Đức Hóa cũng bị ngập, có điểm sâu gần 1 m.
 
Lũ khiến hàng ngàn nhà dân bị ngập và chìm trong biển nước
Ông Cao Xuân Xinh (ở thôn Khe Gát, xã Đức Hóa) cho biết cả tối 14-10, mưa như trút nước và nước lũ ở các sông cứ ngày một dâng cao, nước lũ ở thượng nguồn các con sông cuồn cuộn đổ về, nhấn chìm toàn bộ nhà cửa người dân, trong đó có nhà ông. Hoa màu, cây cối của bà con cũng bị cuốn sạch.
Sáng 15-10, ông Võ Xuân Trường, Chủ tịch UBND xã Đức Hóa, cho biết toàn xã có 730 nhà dân bị ngập, nhiều nhà bị ngấp đến mái.
Tại các xã Sơn Trạch, Phúc Trạch, Xuân Trạch… của huyện Bố Trạch hiện tại mưa vẫn đang rất to, nước thượng nguồn sông Son tiếp tục đổ về khiến người dân lo lắng, nơi đây một số nhà dân đã bị ngập rất sâu, có những nhà bị ngập tới 5 m, có nơi người dân phải cố thủ trên nóc nhà.
Theo Ban Chỉ huy Phòng chống lụt bão và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh Quảng Bình, tính đến 16 giờ ngày 14-10, toàn tỉnh đã có 3 người chết, 2 người mất tích và nhiều người bị thương. Nạn nhân là ông Lê Văn Thân (SN 1968; trú ở xã Lý Trạch, huyện Bố Trạch), chị Nguyễn Thị Lài (thôn Trúc Ly, xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh) và một người 70 tuổi, ở phường Quảng Long, thị xã Ba Đồn. Hai người mất tích là ông Thái Xuân Năng (62 tuổi, ở xã Tân Hóa, huyện Minh Hóa) và một thanh niên ở bản Cà Ai (xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa).
Mưa lũ cũng đã khiến đoạn đường sắt Bắc – Nam qua thôn Lệ Sơn (xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa) cũng bị ngập trong nước, sạt lở và chia cắt khiến 22 chuyến tàu bị mắc kẹt, giao thông đường sắt bị tê liệt hoàn toàn.
Một số hình ảnh lũ lịch sử ở Quảng Bình, nhấn chìm hàng ngàn ngôi nhà:

Nước thượng nguồn cuồn cuồn đổ về

 
Lũ khiến hàng ngàn nhà dân bị ngập và chìm trong biển nước
 
Phương tiện di chuyển, đi lại duy nhất của bà con bây giờ là thuyền
 
 
 
Một trường học ở huyện Bố Trạch bị ngập nước
 
TP Đồng Hới sáng nay vẫn bị ngập nặng, gây ách tắc giao thông

 
Người dân phải treo xe máy để tránh nước dâng cao hư hỏng phương tiện
Minh Tuấn 
Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 15 Tháng 10 2016 13:33 )
 

Ký ức làng qua những sắc phong xưa

Email In PDF.
Ai đó đã từng ví von, một trong những “báu vật” quý giá nhất của làng, xã, dòng họ chính là các đạo sắc phong xưa. Bởi, chúng không chỉ đơn thuần là “bằng khen”, “tấm huân chương” của làng, xã hay cá nhân, dòng họ, mà sâu xa hơn, mỗi tấm sắc phong được bảo tồn, lưu giữ nâng niu, trân trọng qua từng thế hệ, chính bởi phần giá trị truyền thống, hồn cốt tinh thần vẹn nguyên qua những biến động của thời gian.

Sắc phong của vua Quang Trung cho Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn
Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, sắc phong truyền tải lại cho hậu thế các tư liệu quý giá và trung thực nhất về tên, tuổi, công lao của một số nhân vật lịch sử, như: quê quán, công trạng, xếp hạng (nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng tôn thần), biểu thị sự tôn vinh của vương triều và cộng đồng cư dân với vị thần đó. Sắc phong cung cấp những thông tin quý giá, bổ sung thêm lịch sử và là một nguồn tư liệu quan trọng để nghiên cứu các tín ngưỡng văn hóa dân gian. Có hai loại sắc phong thường gặp là sắc phong chức tước và sắc phong thần.
Nhà nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian Văn Tăng chia sẻ, với 410 năm hình thành và phát triển, hầu như huyện, xã nào của Quảng Bình cũng được vinh dự ban tặng các sắc phong qua từng thời đại phong kiến. Trong đó, nhiều nhất là những vùng quê ở huyện Quảng Trạch, thị xã Ba Đồn, Tuyên Hóa... Không ít trong số đó vẫn tồn tại đến tận bây giờ, “thi gan cùng tuế nguyệt” và thực sự trở thành “tài sản quý” của làng, xã, dòng họ, được trao truyền, gìn giữ qua nhiều thế hệ.
Theo nhà nghiên cứu Hán-Nôm Trương Quang Phúc, một trong những sắc phong có giá trị nhất của Quảng Bình chính là sắc phong thần của vua Quang Trung đối với Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn, hiện vẫn được dòng họ Trương ở Minh Lệ (Quảng Minh, thị xã Ba Đồn) lưu giữ nguyên vẹn. Viện nghiên cứu Hán-Nôm rất đề cao giá trị và ý nghĩa lịch sử của sắc phong này, bởi các dấu tích của triều đại Tây Sơn, đặc biệt là sắc phong, bút tích... ở nước ta, khá hiếm hoi do nhiều lý do khách quan của lịch sử.
Ông Trương Minh Đức (Bắc Minh Lệ, Quảng Minh, thị xã Ba Đồn), hậu duệ đời thứ 17 của Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn (Trương Đức Trọng), chậm rãi lần giở cho chúng tôi xem bản sắc phong có tuổi đời hơn 200 năm này. Trên nền giấy sắc tuy đã mục nát theo thời gian, nhưng các hoa văn và chữ vẫn rõ ràng, tươi rói, đặc biệt, dấu triện của vua Quang Trung còn rất rõ nét.
Theo gia phả của dòng họ Trương Công ở làng Minh Lệ, Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn là con trai thứ hai của ông Trương Công Lang-một vị tướng tài của Lê Lợi. Khi Lê Lợi tiến quân ra Bắc đánh đuổi quân Minh, thì ở phía Nam, quân Chiêm Thành (còn gọi là giặc Lồi) thừa cơ quấy nhiễu, cướp phá vùng biên giới, Trương Công Lang được Lê Lợi tin cậy sai đem quân vào Nam trấn thủ. Nối nghiệp cha, ông Trương Công Trấn đã lập nhiều chiến công hiển hách trong cuộc chiến chống quân Chiêm Thành. Năm 1493, trong trận chiến khốc liệt ở Thành Lồi (nay thuộc xã Hạ Trạch, Bố Trạch), ông bị trọng thương, phi ngựa về đến quê nhà ở làng Minh Lệ thì tạ thế vào ngày 24 tháng 4 năm Quý Sửu, niên hiệu Hồng Đức thứ 24. Vua Lê Thánh Tông và triều đình vô cùng thương tiếc đã sắc phong cho ông làm Thượng đẳng thần, Thành hoàng làng và cho lập đền thờ.
Theo ông Trương Minh Đức, tương truyền, ngài cùng 3 họ Nguyễn, Hoàng, Trần đã chiêu dân khai phá đầm lầy, sáng lập ra xã Thị Lệ gồm 5 thôn: Minh Lệ (Quảng Minh), thôn Đoài (Diên Trường, Quảng Sơn), Vĩnh Ninh (Hoà Ninh, Quảng Hoà), Vĩnh Phước, Vĩnh Lộc (Quảng Lộc). Trong sắc phong năm 1790, vua Quang Trung ghi nhận ông là “người đã cần mẫn tích trữ giềng mối nên ba nên năm, sẵn sàng có ngay quân ngũ cả trăm cả nghìn, đã biết giữ oai thần võ khiến cho mọi rợ nước ngoài sợ hãi; đã có công cao trong binh nghiệp mà vẫn giữ được hào khí trung trinh, đặc tính cần mẫn tỏ rõ đức độ của người rạng rỡ sâu xa; đã linh thông thống lĩnh quân dân phù hộ bao trùm tại địa phương do người được nhà vua sai khiến cai quản”. Lăng mộ và nhà thờ Trung lang Thượng tướng quân vẫn sừng sững đến tận bây giờ. Dân hai xã Quảng Minh, Quảng Hoà vẫn còn lưu truyền câu ca: “Mồng một xủi mả Tổng lang, Mồng hai xủi mả cả làng nhà ta”.
Trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, hậu duệ các đời của dòng họ Trương ở Minh Lệ vẫn nỗ lực lưu giữ tấm sắc phong, cùng lăng mộ và nhà thờ của ông, như một sự tri ân nghiêm cẩn của hậu thế với công lao, đức độ to lớn của Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn.
Nằm cách làng Minh Lệ chỉ vài kilômét, đình Hòa Ninh (Quảng Hòa, thị xã Ba Đồn), ngôi đình được xây dựng từ đời vua Bảo Đại thứ 11 (1936), là một trong những đình làng hiếm hoi vẫn còn lưu giữ hơn 10 sắc phong của triều đình nhà Nguyễn. Theo ông Đoàn Tiến Lực (80 tuổi, Vĩnh Phú, Quảng Hòa), người dành nhiều thời gian nghiên cứu về các đạo sắc phong “báu vật của làng”, làng Hòa Ninh xưa có cả thảy 13 sắc phong, nhưng hiện chỉ giữ được 11 sắc phong, trong đó, chỉ đọc và dịch được 10 sắc phong.
Các sắc phong cùng đình Hòa Ninh là biểu tượng cho truyền thống hiếu học với nhiều nhân tài đỗ đạt khoa bảng của vùng quê ven bờ sông Gianh lịch sử này. Khoảng trên dưới chục năm nay, những sắc phong được chuyển dời từ đình Hòa Ninh sang bảo quản tại phòng Văn hóa-Xã hội của UBND xã Quảng Hòa. Trong một ống tre nhỏ, vẻn vẹn 11 đạo sắc phong được bày ra trước mắt vàng ánh cả một góc phòng. Bên cạnh một vài sắc phong còn nguyên lành, không ít sắc phong đã bị rách mục, màu mực và giấy đã ngả màu thời gian.

Ông Trương Minh Đức (Bắc Minh Lệ, Quảng Minh, TX.Ba Đồn), hậu duệ đời thứ 17 của
Trung lang Thượng tướng quân Trương Công Trấn, hiện giữ sắc phong hơn 200 năm tuổi của vua Quang Trung
Các đạo sắc phong của vua Tự Đức năm 1852 và năm 1874, vua Đồng Khánh năm 1887 phong thần cho thành hoàng làng. Vua Thành Thái, vua Duy Tân, vua Khải Định cũng nhiều sắc phong cho những người con ưu tú, có nhiều công lao cho làng nước thành “Trung đẳng thần”, “Thượng đẳng thần”. Riêng vua Khải Định đã bốn lần cấp sắc phong cho làng Hòa Ninh, trong đó, nổi bật với sắc phong cho vị tiến sĩ Nguyễn Sum nổi tiếng “thanh liêm chính trực’, có công vệ quốc, an dân và sắc phong cho ông Tùng Giang Văn Trung là “Trung đẳng thần là Thành hoàng làng”.
Điều kỳ lạ là vùng đất Quảng Bình còn sản sinh những nhân vật kiệt xuất, để tài đức, công thần của họ vẫn còn lưu giữ qua nhiều triều đại phong kiến, cho dù các triều đại đó có đối địch nhau như thế nào. Thành hoàng làng Tiên Lệ Đoàn Đức Mậu (Quảng Tiên, thị xã Ba Đồn) là một trong những người con ưu tú đó. Theo gia phả dòng họ Đoàn làng Tiên Lệ, ông Đoàn Đức Mậu là con thứ hai của Quản Giáp Nghi Trung Bá. Thuở nhỏ, ông rèn luyện võ nghệ, tuổi nhỏ tài cao, có tài bơi lội hơn người.
Dưới thời vua Lê Trung Tông, với diện mạo khôi ngô, thân tài hùng dũng, ba quân không đối địch được, ông đã hộ giá đánh tan quân Mạc, được phong là An Cảo Bá, giữ chức Phủ vệ hầu, sau đó, ông tiếp tục được phong làm Hậu nội thủy cơ-Phó tướng lãnh đô đốc phủ-Tả đô đốc Lập quận công. Dưới thời vua Lê Thế Tông, ông lập công lớn được phong “Thái tử Thái bảo”, lấy tước quan văn phong cho quan võ để thấy được công lao to lớn của ông với triều đình, với dân với nước.
Ông qua đời ngày 16 tháng 8 năm Tân Sửu (1601) trong niềm tiếc thương vô hạn của vua Lê Kính Tông. Vua đã sắc phong cho ông là “Bản cảnh thành hoàng đại vương, quảng hậu chính trực, hữu thiện đông ngưng, dục bảo trung hưng, lệ phong đăng trật tôn thần”. Đến đời nhà Nguyễn, cảm phục trước người con kiệt xuất của làng Tiên Lệ, vua Tự Đức và vua Khải Định đều có sắc phong cho ông. Ông Đoàn Như Kiệt (80 tuổi, Quảng Tiên), hậu duệ của dòng họ Đoàn ở làng Tiên Lệ, hiện đang lưu giữ nguyên vẹn hai đạo sắc phong của nhà Nguyễn, còn đạo sắc phong của nhà Lê nay đã thất truyền.
Những câu chuyện ly kỳ về các sắc phong ở Quảng Bình có lẽ sẽ còn nối dài mãi, đó là các sắc phong của vua triều Nguyễn cho một người không phải là quan lại, nhưng có công khai phá ruộng nương, gây dựng xóm làng thành “Thượng đẳng thần” độc nhất vô nhị ở làng Lệ Sơn (Văn Hóa, Tuyên Hóa); hay 8 sắc phong của vua triều Nguyễn cho Tuần vũ Lê Di (Văn Hóa, Tuyên Hóa)...
Chúng là minh chứng cho bề dày trầm tích lịch sự, văn hóa giàu truyền thống của vùng đất nắng cháy miền Trung này. Những sắc phong quý giá tiếp tục được bảo tồn qua các dòng họ, làng, xã, nơi chúng được sinh ra, nhưng vẫn luôn chờ đợi các cuộc khám phá sâu rộng hơn của đội ngũ chuyên gia nghiên cứu, để từ đó, nhiều phát kiến, giá trị mới sẽ được khơi mở, làm giàu thêm truyền thống tốt đẹp của mỗi một làng quê.
Mai Nhân - Nguồn: Báo Quảng Bình 

Lần cập nhật cuối ( Thứ bảy, 15 Tháng 10 2016 04:37 )
 

Những ngôi làng đặc biệt: Đệ nhất bát danh hương

Email In PDF.
Không có của ngon vật lạ hay danh nhân kiệt xuất nhưng làng Lệ Sơn, xã Văn Hóa, huyện Tuyên Hóa vẫn được phong là “đệ nhất bát danh hương” của đất Quảng Bình
Truyền thuyết 99 ngọn núi
Ông Trần Xuân Quế (75 tuổi, người làng Lệ Sơn) tự hào khoe vùng đất Lệ Sơn là một kiệt tác kỳ công của tạo hóa. Làng đứng đầu trong số 8 ngôi làng nổi tiếng nhất tỉnh Quảng Bình gồm: Sơn - Hà - Cảnh - Thổ - Văn - Võ - Cổ - Kim (Lệ Sơn, La Hà, Cảnh Dương, Thổ Ngoạn, Văn Hóa, Võ Xá, Cổ Hiền, Kim Nại) nên được mệnh danh là “Đệ nhất bát danh hương”.
Là một cựu giáo chức, ông Quế kể rằng ngôi làng này không chỉ nổi tiếng bởi sự hiếu học mà còn lưu truyền hàng chục câu chuyện cổ tích về địa danh, quá trình hình thành làng. Đã có rất nhiều bài thơ, bài ca ra đời ca tụng làng Lệ Sơn. Quanh các ngọn núi cũng có hàng chục câu chuyện kỳ lạ.
Làng Lệ Sơn tựa bên dãy núi đá vôi có 99 ngọn kéo dài 4 km, mặt trước bao bọc bởi dòng sông Gianh thơ mộng. Từ đầu tới cuối làng là con đường đầy bóng tre xanh trải dài theo mép sông. Phong cảnh Lệ Sơn được một người con xa xứ họa bằng thơ rằng: Sông trong in thẳm da trời/Chập chùng núi biếc, ngời ngời trăng thanh.

Ông Trần Xuân Quế ngâm nga những câu thơ viết về Lệ Sơn
Người dân nơi đây thường truyền tai nhau truyền thuyết về đàn chim phượng hoàng và 99 ngọn núi. Vào một chiều xuân, 100 con phượng hoàng trên đường bay từ Bắc vào Nam, khi tới vùng Lệ Sơn đã không cưỡng lại được vẻ đẹp của mảnh đất này. Bầy chim chao lượn rồi định dừng chân trên những ngọn núi sau làng để “thưởng thức”.
Tiếc thay, Lệ Sơn chỉ có 99 ngọn núi mà có đến 100 chim phượng hoàng. Thế là, một con loay hoay mãi không tìm ra chỗ đậu nên đàn chim đành phải ngắm nghía ngôi làng rồi bay tiếp. Sau này, 99 ngọn núi cứ cao dần lên, không chỉ che bão táp, nắng nóng mà còn tạo nên một dãy núi cao, đẹp bao bọc, bảo vệ làng.
Vua Hàm Nghi cũng từng chọn Lệ Sơn làm nơi nghỉ chân trên đường chạy ra Hà Tĩnh để trốn giặc Pháp truy đuổi. Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, quân đội ta đã chọn 99 ngọn núi chạy dọc làng làm căn cứ cách mạng.
Những đỉnh Thanh Tuyền, Vũ Tọa, Thi Đầu, Họa Các, Bài Phong… ngày xưa được dân làng làm vọng gác đánh tàu chiến của Pháp từ Ba Đồn lên càn quét. Hang Lụy, hang Ong là căn cứ của Quân y 108 - nơi chữa bệnh, an dưỡng cho bộ đội trước khi quay lại chiến đấu.
99 ngọn núi không chỉ che chở cho bộ đội và người dân những năm chống giặc ngoại xâm mà theo ông Nguyễn Văn Huyền, một người dân trong làng, đây còn là nơi tránh lũ. Bao năm qua, Lệ Sơn không phải chịu sự tàn phá của bão lũ cũng như cái nắng, cái gió gay gắt của miền Trung. “Lệ Sơn như một vùng trời riêng ở miền Trung. Quanh năm không khí trong lành, người dân ai cũng sống thọ…” - ông Huyền kể.
Lấy học vấn làm đầu
Chúng tôi tìm về Lệ Sơn khi năm học mới đã bắt đầu. Không còn cảnh học sinh lụy đò bởi cây cầu mới bắc qua sông Gianh ở xã Văn Hóa vừa khánh thành. Dọc các con đường, những tà áo trắng tung tăng dưới bóng tre yên ả. Tinh thần hiếu học ở làng này được ông Trần Xuân Quế ví von: “Nhiều người làng bên thường bảo làng Lệ Sơn có mỏ vàng. Ý người ta muốn nói rằng nơi đây sinh ra nhiều người tài”.

Những ngọn núi vôi hùng vĩ, yên bình bao bọc làng Lệ Sơn
Để động viên con cháu cố gắng học hành, ngày xưa, các cụ lớn tuổi trong làng thường bảo: Đây là vùng đất linh, tiên thường giáng trần. Nếu em nào cần cù học tập ắt sẽ thành công. Cũng vì thế mà truyền thống hiếu học nơi đây được gìn giữ từ đời này sang đời khác. Ông Quế nhớ lại: “Khi tôi còn bé, cứ mỗi khi đêm về, các thầy lại đánh trống báo hiệu giờ học. Họ đi quanh làng thúc giục, động viên học sinh học bài”.
Ông Hoàng Đình Bá, Chủ tịch Hội Khuyến học xã Văn Hóa, cho biết trong năm học này, toàn xã có 26 em đỗ vào các trường ĐH trên toàn quốc. Còn trong 5 năm trở lại đây, làng Lệ Sơn có 146 em thi đỗ ĐH, CĐ. Hằng năm, vào ngày 26 tháng chạp âm lịch, làng Lệ Sơn lại mở hội trao thưởng cho các em đỗ ĐH, CĐ và những học sinh đạt thành tích xuất sắc. Đây là dịp các em về quê nghỉ Tết cổ truyền; dân làng mới có điều kiện gặp gỡ, động viên. Ngoài ra, 10 dòng họ ở làng còn tổ chức lễ trao học bổng riêng. Con em ở Lệ Sơn luôn lấy sự học làm đầu.
“Đây là vùng đất nghèo, ai ai cũng ráng học để sau này bớt khổ. Từ xa xưa, vùng đất này có nhiều nhà nho dạy chữ, truyền thống hiếu học của con em trong làng đã được các tiền nhân vun đắp” - ông Bá lý giải.
Làng có gần 1.000 nhà giáo
Ông Nguyễn Văn Hà, người dân làng Lệ Sơn, tự hào cho biết: Năm nào làng cũng có vài chục em đậu đại học. Hiện có trên 150 người là nhà giáo về hưu và gần 1.000 nhà giáo đang giảng dạy trên cả nước. Đặc biệt, nhiều gia đình có từ 2-3 người làm nghề giáo. Trong làng cũng có rất nhiều người có học hàm, học vị giáo sư, tiến sĩ”.
Bài và ảnh: QUANG NHẬT
Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 11 Tháng 10 2016 04:21 )
 
Trang 10 trong tổng số 106 trang.
Bạn đang ở: Trang chủ