Lịch âm dương

Xem tin theo ngày

< Tháng 4 2019 >
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
23 24 25 26 27 28
29 30          

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay6651
mod_vvisit_counterHôm qua3341
mod_vvisit_counterTuần này6651
mod_vvisit_counterTuần trước14520
mod_vvisit_counterTháng này66727
mod_vvisit_counterTháng trước60583
mod_vvisit_counterTất cả5152242

Có: 10 khách trực tuyến

Tin tức - Sự kiện

Tư duy quân sự thiên tài của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong kháng chiến chống Pháp

Email In PDF.
ANTĐ Đại tướng Võ Nguyên Giáp không qua một trường lớp quân sự chính quy nào, ông học tập và trưởng thành trong thực tế là chính. Ông không xử trí chiến thuật quân sự bằng những “giải pháp quân sự cố định của học đường”, mà luôn xuất phát từ thực tế chiến trường để giải quyết mọi tình huống ngoài dự kiến và lật ngược thế cờ.
Đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung
Mùa đông năm 1947, quân Pháp mở cuộc tấn công lớn lên Việt Bắc với mục tiêu lùng bắt cơ quan đầu não kháng chiến, tiêu diệt lực lượng chủ lực của Việt Minh để kết thúc chiến tranh. Địch chia quân 2 cánh hòng tạo ra 2 gọng kìm vây lấy quân ta. Không chỉ trong giai đoạn này mà kể cả từ khi cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu nổ ra, so sánh mọi mặt, quân ta luôn ở thế yếu hơn địch, cả về quân số và vũ khí trang bị, cuộc kháng chiến đang ở trong giai đoạn phòng ngự và ta đang tìm cách để chuyển hóa sang giai đoạn cầm cự.
Trong binh pháp, lúc này quân Pháp đang ở thế “Chủ”, và ta ở bên “Khách” nhưng “Chủ” và “Khách” ở đây không mang ý nghĩa thông thường. Pháp mở chiến dịch Việt Bắc là “chủ động” nhằm tìm diệt quân chủ lực của ta, nếu chiến dịch này thành công họ sẽ là bên giành quyền "chủ động" trên chiến trường, đưa ta vào thế “bị động”, đẩy cuộc kháng chiến của ta lún sâu vào thế trận phòng ngự.
Vấn đề quan trọng nhất trong thời điểm này là phải có phương án tác chiến thích hợp để đập tan được cuộc tấn công của địch, mà vẫn bảo toàn được lực lượng của ta để kháng chiến lâu dài. Nếu thắng lợi trong chiến dịch này, ta có thể thoát khỏi thế trận phòng ngự, giành quyền chủ động tấn công nhất định trên chiến trường, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc chiến tranh chuyển hóa sang giai đoạn cầm cự, buộc Pháp phải bỏ chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh”.
Trong đợt toàn quốc kháng chiến năm 1946, có lúc ta tổ chức đánh lớn, dàn quân ra đánh với địch như ở Hà Đông, nhưng không hiệu quả do trang bị của ta thô sơ, bất lợi khi giao chiến theo hình thức chiến tranh quy ước với địch. Nhận thức được vấn đề đó, Đại tướng hiểu rằng tránh đối đầu trực tiếp trên quy mô lớn với địch là thượng sách nhưng như vậy ta phải làm thế nào để bảo vệ đầu não kháng chiến, đập tan cuộc hành quân trên quy mô lớn của địch?
Trong tình thế hiểm nghèo đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp được nghe báo cáo có 1 đại đội bị lạc đơn vị đã nương tựa vào nhân dân Hà Bắc, vừa chiến đấu vừa phát triển lực lượng trong lòng địch. Câu chuyện đã lóe lên trong đầu vị tướng thiên tài một câu trả lời mà bấy lâu ông đang tìm kiếm. Ta sẽ phân tán lực lượng ra, kẻ địch sẽ không thể tìm thấy thứ chúng muốn tìm là chủ lực ta, ngược lại, chúng sẽ bị ta đánh ở khắp nới và sẽ bị nhấn chìm trong núi rừng Việt Bắc.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp được tôn vinh là thiên tài quân sự thế giới
Ngay sau đó, Đại tướng liền trình kế hoạch tổ chức lực lượng theo phương châm “Đại đội độc lập - Tiểu đoàn tập trung” lên Trung ương Đảng và Bác Hồ. Trong cuộc họp ngày 14/10/1947, Trung ương và Bác đã nhất trí thông qua kế hoạch, cho tổ chức quân đội ta thành những đại đội độc lập đi vào hoạt động trong vùng địch tạm chiếm để biến hậu phương địch thành tiền phương của ta.
Đây có thể được coi là sự vận dụng cực kỳ sáng tạo một mưu kế kinh điển trong Binh pháp Tôn Tử là “Phản khách vi chủ” của Đại tướng ở tầm chiến lược, biến quân địch từ thế chủ động “tìm diệt” trở thành bị động, gặp phải sự tấn công trên khắp cả chiến trường. Còn ta, từ kẻ bị săn lùng trở thành người chủ động “tìm diệt” quân địch, khiến cho chúng không đạt được mục đích tiêu diệt chủ lực ta mà còn bị tiêu hao sinh lực lớn.
Nhờ công thức “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung”, quân ta tiếp tục giữ vững thế chủ động trong chiến dịch Việt Bắc và trên cả miền Bắc đẩy quân Pháp vào thế bị động, căng mỏng binh lực ra đối phó. Sau thất bại ở Việt Bắc, quân Pháp ngày càng phải lo lắng nhiều đến việc giữ gìn vùng chiếm đóng vì các đại đội chủ lực của ta đã đi vào hoạt động thúc đẩy phong trào đấu tranh của du kích và nhân dân lên một bước mới, không cho chúng rảnh tay tập trung quân càn quét.
Do quyết định sáng suốt của Đại tướng Tổng tư lệnh, chiến dịch Việt Bắc của địch đã thất bại thảm hại. Pháp không những không diệt được đầu não kháng chiến của ta mà còn bị tổn thất hết sức nặng nề, buộc phải bỏ chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh chuyển sang đánh lâu dài với ta, cuộc kháng chiến thuận lợi chuyển sang giai đoạn cầm cự, hai bên giằng co quyết liệt trên chiến trường.
Hủy Cao Bằng, chọn Đông Khê để “đánh điểm, diệt viện”
Đầu năm 1950, cuộc kháng chiến đã phát triển đến một giai đoạn mới, lực lượng chủ lực của ta đã lớn mạnh, đã tổ chức thành các trung đoàn và đại đoàn chủ lực đầu tiên là 308. Lúc này, tương quan lực lượng giữa 2 bên đã tương đối quân bình, ta đã có thể mở được những hoạt động tác chiến tầm cỡ chiến dịch. Cuộc kháng chiến đặt ra yêu cầu mới là ta phải giành thế chủ động trên chiến trường, chuyển sang giai đoạn tổng phản công, đẩy địch vào thế bị động phòng ngự.

Bản đồ khu vực tác chiến trong chiến dịch biên giới
Năm 1949 cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc thành công, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ra đời. Chiến dịch Biên Giới 1950 mở ra với mục đích khai thông biên giới Việt - Trung để nối liền vùng giải phóng của ta với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nhằm tranh thủ sự giúp đỡ của các nước Xã hội Chủ nghĩa cho cuộc kháng chiến của ta. Vì ý nghĩa đó, đây là một chiến dịch quan trọng phải đảm bảo chắc thắng.
Khoảng đầu tháng 6/1950, giặc Pháp bắt đầu củng cố và tăng cường cả về binh lực, hỏa lực và công sự trên toàn phòng tuyến Đường số 4. Bộ chỉ huy chiến dịch, đứng đầu là Đại tướng đã xác định phương châm tác chiến là đánh điểm - diệt viện, lấy tiêu diệt sinh lực địch ngoài công sự là chủ yếu. Nhưng đâu là “điểm đột phá” để khơi mào, tạo điều kiện để đánh viện binh địch?
Ban đầu, phía ta chủ trương đánh cứ điểm Cao Bằng. Từ đầu kháng chiến tới nay, quân ta chủ trương rút lực lượng khỏi các thành phố lớn, lấy nông thôn vây thành thị. Lần này, nếu đánh chiếm được một vị trí như Cao Bằng sẽ là một bước chuyển về chất, tạo nên một uy thế vang dội. Nhiều đơn vị đã được cử đi điều nghiên địa hình thị xã và chuẩn bị phương án tác chiến. Bản thân Đại tướng cũng trực tiếp đi nắm tình hình địch và nghiên cứu thực địa.
Trong hồi ký “Đường tới Điện Biên Phủ”, Đại tướng Tổng tư lệnh viết: “Lấy thị xã Cao Bằng làm điểm đột phá để mở đầu chiến dịch có phải là sự lựa chọn đúng không? Cao Bằng là một vị trí nằm sâu trong hậu phương ở phía bắc. Ở đây, địch có 2 tiểu đoàn. Nếu đánh thắng, ta sẽ giải phóng được một thị xã quan trọng ở biên giới, ảnh hưởng chính trị sẽ rất lớn. Nhưng bộ đội ta chưa hề đánh một vị trí 2 tiểu đoàn Âu-Phi. Cao Bằng như tôi đã biết, nằm giữa hai con sông, và có ngôi thành cổ rất vững chắc”.
Qua chuyến thị sát, Đại tướng nhận thấy, địa hình Cao Bằng dễ thủ mà khó công, ba mặt có sông bao quanh, mặt sau hiểm trở. Bản thân pháo đài Cao Bằng được xây hết sức kiên cố vững chắc, địa hình tiến đánh hết sức khó khăn. Kể cả ta tập trung binh lực tối đa cũng không dễ công hạ mà còn đứng trước nguy cơ bị tổn thất rất lớn. Đại tướng nhận định: “Đánh Cao Bằng sẽ thực sự là một trận công kiên lớn mà chúng ta còn chưa có kinh nghiệm”. Vì vậy, ông đã quyết đoán hủy bỏ phương án đánh Cao Bằng.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thị sát thị xã Cao Bằng vừa được giải phóng (1950)
Ông khẳng định: “Trong tư tưởng của tôi từ trước, điểm đột phá trên chiến trường này phải là Đông Khê. Ở đây địch đóng 1 tiểu đoàn, nằm trong khả năng tiêu diệt của bộ đội ta. Mất Đông Khê, Cao Bằng sẽ trở nên hoàn toàn cô lập. Địch nhất định phải chiếm lại Đông Khê. Bộ đội ta sẽ có điều kiện tiêu diệt bộ binh địch trên địa hình rừng núi”. Phương án điều chỉnh, bỏ Cao Bằng, đánh Đông Khê của Đại tướng đã được Hồ Chủ tịch đã được thông qua..
Quyết định của Đại tướng là vô cùng sáng suốt, Ông đã chọn đúng khu vực tác chiến thuận lợi cho ta và bất lợi cho địch. Đó là khu vực Cao Bằng - Thất Khê nơi các cụm cứ điểm phòng ngự của địch chạy dọc đường số 4 là Cao Bằng, Đông Khê, Thất Khê. Đây là khu vực phòng ngự sơ hở cửa địch, song lại gần hậu phương kháng chiến của ta, có nhiều đường nối liền với Trung Quốc, tiện việc chỉ đạo và huy động nhân lực, vật lực.
Chủ lực ta có đủ khả năng công hạ được cứ điểm Đông Khê, quân Pháp ở Cao Bằng bị bao vây, cô lập tất phải bỏ thành chạy về Đông Khê, hợp với quân cứu viện ở Thất Khê và Lạng Sơn lên đoạt lại bằng được cứ điểm này. Khi đó, quân ta có thể ung dung, “chủ” động đưa các vị “khách” này vào thế trận phục kích diệt viện, lúc đó ta không những lấy được Đông Khê, Thất Khê mà còn cả Cao Bằng, thậm chí nếu biết chớp thời cơ thì có thể giải phóng toàn bộ dải biên giới.
Còn nếu quyết định chọn Cao Bằng, có thể ta vẫn hạ được thị xã này nhưng sẽ phải trả giá rất đắt. Vượt qua được thế trận phòng thủ vững chắc của 2 tiểu đoàn Âu-Phi thì quân ta cũng không còn đủ sức đánh chiếm các cứ điểm khác, không có khả năng khuếch trương chiến quả, cuối cùng cũng bị cô lập trong vòng vây của quân địch. Như vậy, ta đã từ thế chủ động tiến công trở thành phòng ngự bị động, tức là đang từ “Chủ” chuyển thành “Khách”.
Chiến dịch Biên giới của ta có nét giống trận công hạ thành Nam An của Gia Cát Khổng Minh trong Tam Quốc Diễn Nghĩa. Thành Nam An kiên cố, dễ thủ khó công, nếu Khổng Minh dốc toàn lực để đánh thành thì chưa chắc đã hạ được mà còn bị quân tiếp viện ở 2 quận An Định và Thiên Thủy tiến đánh. Vì vậy, ông quyết định không tấn công mà dùng kế nhử quân tiếp viện ở 2 nơi đến để phục kích diệt viện, cuối cùng cũng hạ được thành Nam An và cả 2 quận Thiên Thủy và An Định mà không hao tổn bao nhiêu quân sĩ. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng - Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp và
Phó thủ tướng Phạm Văn Đồng sau phiên họp tổng kết chiến dịch Biên giới 1950
Sự so sánh nào cũng có điều khập khiễng. Tuy tình huống của 2 trận đánh này khác nhau, các biện pháp xử lý cụ thể cũng có sự khác biệt nhưng tư tưởng chỉ đạo tương tự như nhau là không đánh điểm phòng ngự kiên cố mà tập trung đánh chỗ yếu, diệt quân tiếp viện, phá thế ỷ dốc khiến cho địch trong căn cứ lớn buộc phải bỏ chạy, chiếm được thành mà không hao quân tổn tướng. Có thể nói, đây chính là sự đồng điệu của những tư duy quân sự thiên tài.
Thực tế chiến sự sau đó đã diễn ra hoàn toàn theo suy tính của Đại tướng. Ngày 16/9/1950, chiến dịch Biên Giới chính thức bắt đầu với trận tấn công đồn Đông Khê. Sau khi Đông Khê thất thủ, cứ điểm mạnh Cao Bằng bị cô lập và uy hiếp khiến quân Pháp buộc phải bỏ Cao Bằng chạy về Đông Khê, đồng thời cũng cử một binh đoàn từ Thất Khê lên tái chiếm cứ điểm này và rơi vào thế trận “diệt viện” của quân ta bố trí dọc đường số 4. Một cánh quân khác của Pháp lên ứng cứu cho địch đi từ phía Lạng Sơn cũng rơi vào tình cảnh tương tự.
Kết thúc toàn chiến dịch, quân ta có khoảng vài trăm bộ đội bị hy sinh. Phía Pháp, ngoài số bị tiêu diệt gồm 2 binh đoàn Âu-Phi và vài tiểu đoạn độc lập, số tù binh lên tới 8.000 quân, đông chưa từng có kể từ khi bắt đầu cuộc kháng chiến. Quân ta còn thu được hàng ngàn tấn chiến lợi phẩm, đủ trang bị cho các sư đoàn chủ lực mới được thành lập. Thậm chí, số đạn pháo thu được sau chiến dịch còn dùng để cung cấp cho chiến trường Triều Tiên và cả chiến dịch Điện Biên Phủ sau này.
Nhưng quan trọng hơn cả, là tuyến biên giới Việt - Trung được khai thông, phá thế bao vây căn cứ địa Việt Bắc với các nước bè bạn trên thế giới. Thắng lợi của Chiến dịch Biên Giới mở ra một bước ngoặt chuyển cuộc kháng chiến của ta từ hình thái chiến tranh du kích tiến lên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh chính quy với chiến tranh du kích ở trình độ cao hơn. Đồng thời, nó cũng là nguyên nhân trực tiếp giúp cuộc kháng chiến của ta chuyển hóa sang giai đoạn Tổng phản công.
Thành quả này có được, công lao lớn nhất là do tư duy quân sự sắc sảo, linh hoạt và thiên bẩm của vị Đại tướng chưa một ngày học qua trường lớp võ bị nào!

Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 30 Tháng 1 2019 16:26 )
 

Người lính quân hàm xanh canh gác mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Email In PDF.
Một ngày cuối tháng 12, nhân Lễ kỷ niệm 74 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/2018) và 29 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 – 22/12/2018), chúng tôi về với Vũng Chùa – Đảo Yến thuộc xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình, nơi Đại tướng Võ Nguyên Giáp yên nghỉ, thành kính dâng nén nhang thơm.
  
Từ ngày Đại tướng Võ Nguyên Giáp về yên nghỉ tại Vũng Chùa – Đảo Yến, đã có khoảng hơn 6 triệu lượt người đến viếng.
Giữa cái lạnh se sắt của những ngày đầu đông, cựu binh Trần Văn Định, ngoài 70 tuổi, vất vả đi xe từ miền Nam xa xôi ra viếng mộ Đại tướng, xúc động chia sẻ: “Đây là lần thứ 2 tôi ra Quảng Bình viếng mộ Đại tướng nhưng cái cảm giác, cảm xúc cồn cào, tiếc thương vô hạn như cái lúc mới biết tin Người từ trần”.
Hơn 5 năm qua, từ ngày Đại tướng về an nghỉ tại Vũng Chùa – Đảo Yến, có lẽ những người lính quân hàm xanh là những chiến sĩ có những đóng góp, hy sinh thầm lặng nhất để canh giữ giấc ngủ ngàn thu cho Người.
Trò chuyện với chúng tôi, Thiếu tá Nguyễn Mạnh Dũng, cán bộ Đội bảo vệ mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp chia sẻ: “Tất cả 24/24 giờ trong ngày, anh em cán bộ, chiến sĩ của Đội vừa làm việc để giữ gìn cho khu mộ luôn bảo đảm sự trang nghiêm, vừa tạo điều kiện thuận lợi để người dân được bày tỏ lòng thành kính của mình dành cho Đại tướng.
Có những đoàn cựu chiến binh vượt cả đoạn đường xa ngái để đến viếng Bác, cũng có những người đã từng một thời mang áo lính một mình tới đây chỉ để ngồi bên Bác một lát thôi. Những đoàn người ấy, những hình ảnh ấy đã làm cho chúng tôi cảm thấy rất hạnh phúc khi được nhận nhiệm vụ canh giấc ngủ cho Người”.

Những chiến sĩ Đội bảo vệ mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp dẫn từng đoàn khách lên viếng mộ Người.
Đội bảo vệ mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp có 30 cán bộ chiến sĩ, họ đều xác định đây là niềm vinh dự, cũng là trách nhiệm cao cả mà Đảng và nhân dân tin tưởng giao phó.
 
Những lúc thưa khách đến viếng, các chiến sĩ lại quét dọn, nhặt rác ở con đường dẫn lên mộ Người.
Thượng Tá Phạm Minh Dũng – Đồn trưởng Đồn Biên phòng Roòn tâm sự: “Cán bộ chiến sĩ Bộ đội Biên phòng (BĐBP) Quảng Bình vinh dự được Bộ Quốc phòng, Cấp ủy - chính quyền địa phương và gia đình Đại tướng Võ Nguyên Giáp tin tưởng giao cho công tác phục vụ, bảo vệ lễ an táng Đại tướng. Với niềm kính phục, tri ân và bằng cả tấm lòng chân thành, vinh dự và trách nhiệm với Đại tướng và nhân dân cả nước, BĐBP đã cố gắng hết sức mình, không quản ngại ngày đêm, trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, mưa gió sau bão, địa tầng đất đá... đã cùng với các lực lượng và gia đình cùng chuẩn bị nơi an nghỉ chu đáo, phục vụ tận tình trong quá trình tang lễ và bảo vệ an toàn tuyệt đối lễ Quốc tang của Đại tướng.
Sau lễ Quốc tang, BĐBP Quảng Bình được Bộ Quốc Phòng, Đảng ủy Bộ Tư lệnh BĐBP giao nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đối, an toàn khu mộ, giữ yên giấc ngủ ngàn thu cho Đại tướng; tổ chức đón tiếp, hướng dẫn chu đáo, tận tình cho nhân dân, kiều bào ta ở nước ngoài và khách quốc tế đến thăm viếng. Ngay sau đó, Đội bảo vệ khu mộ Đại tướng được thành lập, trực thuộc Đồn Biên phòng Roòn, đó là may mắn của chúng tôi khi được đứng bên, canh giấc ngủ ngàn thu cho người anh hùng của dân tộc – Đại tướng Võ Nguyên Giáp”.
Khánh Linh - Đặng Tài - Theo Dân trí
 

Võ Nguyên Giáp: Vị tướng đặc biệt

Email In PDF.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp - vị "Tư lệnh của mọi tư lệnh, chính ủy của mọi chính ủy" - được cả thế giới tôn vinh; là người biết lắng nghe và quyết đoán, dù đã mất nhưng danh thơm mãi lưu truyền
Ngày 21-12, tại Hà Nội, hội thảo khoa học quốc gia về chủ đề "Đại tướng Võ Nguyên Giáp với văn hóa dân tộc" diễn ra nhằm tôn vinh và tổng kết những bài học từ những đóng góp, ảnh hưởng to lớn của Đại tướng Võ Nguyên Giáp với tư cách một nhà yêu nước vĩ đại, một nhà quân sự kiệt xuất, một nhà văn hóa lớn, một nhân cách Việt Nam cao đẹp ngời sáng, trong bảo tồn và phát huy các tinh hoa của nền văn hóa truyền thống Việt Nam, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Minh chứng qua lịch sử
Theo Trung tướng Phùng Khắc Đăng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nhà quân sự kiệt xuất, vị tướng thiên tài đã được thế giới khẳng định. Thế giới tôn vinh, dành những danh hiệu cao quý cho người anh cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam thì hẳn đó là một con người vĩ đại đã được minh chứng qua lịch sử.
"Biết lắng nghe và quyết đoán là phẩm chất hết sức cần thiết của một vị tổng tư lệnh trực tiếp cầm quân ở chiến trường. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã là một người như vậy. Hồi xưa, vua giao đại tướng cầm quân ra biên ải được toàn quyền quyết định về chiến trường "quyết trước, tâu sau". Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong chiến dịch Điện Biên phủ đã giao Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyền quyết định xử lý chiến trường như vậy" - nhà thơ Thanh Thảo bày tỏ và nhớ trong một cuộc hội thảo khoa học lịch sử về tướng Phạm Kiệt tổ chức trước đây, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi thư đến hội thảo. Thư có đoạn viết: "Anh Kiệt đã đến tận nơi kiểm tra trận địa pháo binh, phát hiện sự nguy hiểm khi bố trí pháo binh dã chiến tại một địa bàn tương đối bằng phẳng. Bản thân tôi thì đang khẩn trương theo sát tình hình củng cố của địch và suy nghĩ về quyết định thay đổi phương châm. Chính lúc đó thì nhận được ý kiến của anh Phạm Kiệt phát biểu bằng điện thoại. Anh trình bày vắn tắt tình hình và là người duy nhất lúc đó đã đề nghị tôi xem xét lại kế hoạch đánh nhanh. Anh Phạm Kiệt nói: "Anh Văn ạ, tôi ở đơn vị pháo đây, pháo triển khai bằng công sự dã chiến ở giữa cánh đồng, ban ngày bom đạn của địch chắc không thể trụ được. Đề nghị anh cân nhắc". Chỉ có anh Kiệt mới dám nói câu đó!". Và như chúng ta đã thấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lắng nghe và xác định ngay đó là một ý kiến chính xác.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại một lễ kỷ niệm. (Ảnh chụp lại từ tác phẩm trong triển lãm của tác giả Nguyễn Đình Toán)
Chính ở những thời điểm dầu sôi lửa bỏng ấy, chiến trường cần một vị tổng tư lệnh phải biết lắng nghe. Và quan trọng hơn là sau khi nghe, nếu thấy những tư vấn ấy là đúng thì kiên quyết tìm biện pháp thực hiện. Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp là người thực sự biết lắng nghe, lời "nói thẳng nói thật" từ một người cấp dưới của mình là tướng Phạm Kiệt, để ngay sau đó đã có quyết sách đúng đắn.
Ví bản thân như hạt nước
Nhà Sử học, đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc cho biết sau cuộc hội thảo đầu tiên về Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thời gian tới, Viện Hàn Lâm, Viện Nghiên cứu Văn hóa, Viện chiến lược sẽ tiếp tục mở các cuộc hội thảo về chủ đề này để tìm hiểu, bàn luận và làm rõ hơn vai trò của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
GS Nguyễn Đình Chú tâm đắc: "Cuộc đời tôi biết ơn Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất nhiều bởi nhờ ông mà tôi có hôm nay. Tôi nhớ như in những lần được gặp và tiếp xúc với Đại tướng. Những lần tiếp xúc là một khoảnh khắc thiêng liêng. Với chúng tôi, Đại tướng như ruột thịt, mặc dù ở vị trí cao nhưng trong giao tiếp với mọi người thì rất bình dị, nhẹ nhàng và chan hòa với tất cả. Với Đại tướng, chữ NHẪN luôn được đặt lên hàng đầu, NHẪN trong mọi hoàn cảnh, mọi trường hợp, đó là một phẩm chất cao quý của Đại tướng".
Cùng tâm trạng, nhà thơ Trần Đăng Khoa chia sẻ sinh thời, Đại tướng Võ Nguyên Giáp không thích ví mình như huyền thoại mà chỉ là một người bình thường. Bao giờ ông cũng chỉ ví bản thân như một hạt nước của biển cả mà thôi.
"Khi nói đến Đại tướng Võ Nguyên Giáp, phải nói đến Hồ Chí Minh. Tôi không hiểu bằng cách nào, linh cảm nào mà Bác Hồ nhìn ra một người thầy dạy sử và đưa lên làm Đại tướng của đất nước. Cả đời vị Đại tướng này không để thua một trận nào. Nhiều người còn ví ông giỏi hơn nhiều tướng lĩnh lừng danh trên thế giới" - nhà thơ Trần Đăng Khoa nói.
Bài và ảnh: HUY THANH
Lần cập nhật cuối ( Thứ hai, 24 Tháng 12 2018 13:58 )
 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong lòng dân tộc

Email In PDF.

Nhiều kỷ niệm về Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được kể lại qua các kỷ vật trong triển lãm Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Chiến khu Việt Bắc, khai mạc ngày 3.10 tại Bảo tàng Lịch sử quân sự, Hà Nội.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp trước đây từng học trường luật, dạy học và viết bài cho các tờ báo Le Travail, Notre Voix…
ẢNH: CHỤP LẠI TƯ LIỆU TRIỂN LÃM
Chuyện xưa của người lính
Ông Nguyễn Công Dinh, cán bộ tham mưu tác chiến, đến triển lãm Đại tướng Võ Nguyên Giáp với Chiến khu Việt Bắc và đứng rất lâu ở phần trưng bày về Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông cũng đã từng ở đó. Hơn thế nữa, ông còn là người đã cầm bức thư mật của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về báo cáo Bác Hồ tại an toàn khu Định Hóa, Thái Nguyên. “Thư đó, Đại tướng báo cáo với Bác Hồ xin đổi tác chiến từ đánh nhanh thắng nhanh sang đánh chắc tiến chắc. Chính phương châm tác chiến đó đã làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ”, ông Dinh nhớ lại. Được đích thân Đại tướng giao thư, ông Dinh cũng được đi đưa thư bằng chiếc xe jeep duy nhất vốn chỉ dành cho tổng tư lệnh đi trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ông Dinh nhận lệnh sau giờ cơm trưa, rồi chuẩn bị đi luôn khi sương bắt đầu xuống.
Chiếc áo đồng bào dân tộc Nùng tặng Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Tại triển lãm, công chúng được thấy lại nhiều hình ảnh, hiện vật tiêu biểu gắn với cuộc đời hoạt động của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Cuốn sách Phát động du kích chiến tranh do Đại tướng viết, tổng kết những kinh nghiệm đánh du kích để phổ biến cho cán bộ chiến sĩ năm 1947. Sắc lệnh số 110/SL ngày 20.1.1948 của Chủ tịch Hồ Chí Minh phong quân hàm cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Bức ảnh chụp Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng và các thành viên Hội đồng Chính phủ sau lễ phong quân hàm Đại tướng năm 1948. Tại đó, Bác Hồ nói: “Nhân danh Chủ tịch nước VN, trao cho chú chức vụ Đại tướng để chú điều khiển binh sĩ làm tròn sứ mạng mà quốc dân phó thác cho”.
Đại tướng đàn bài kết đoàn
Triển lãm cũng có nhiều câu chuyện nhỏ về vị Đại tướng qua những bức ảnh. Trong đó có một bức ảnh ông đang chơi dương cầm. Hướng dẫn viên của bảo tàng cho biết, Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất yêu âm nhạc và chơi được nhiều bản nhạc nước ngoài. Có lần, Bác Hồ hỏi Đại tướng có biết đàn bài Kết đoàn không, sau đó Đại tướng đã học để chơi bản nhạc đó.
Đến đây để nhìn thấy lại đồng chí, đồng bào, tướng lĩnh chiến sĩ quân đội đã cùng ông chiến đấu. Nhớ đến ông cũng là nhớ đến đồng chí, đồng bào... Ông Võ Hồng Nam, con trai Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Không chỉ trong âm nhạc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn có một sức hút kết đoàn mãnh liệt với nhân dân và bạn bè quốc tế. Triển lãm vì thế có nhiều tư liệu ảnh ông chụp cùng bạn bè quốc tế. Trong đó, bức ảnh chụp cựu chiến binh Mỹ Bobby Muller được Đại tướng tiếp tại nhà riêng cho thấy sức hút này. Chú thích ảnh cho biết, ông Muller đã chia sẻ: “Trong cuộc gặp gỡ đó, tôi không hề có một chút cay đắng nào, chỉ có một tình cảm quý trọng và ân huệ to lớn”.

 

 

Với đồng bào chiến sĩ, triển lãm có những hiện vật kể về tình cảm họ dành cho Đại tướng - người một đời tâm niệm mình “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”. Cũng vì thế, trong phần ảnh Điện Biên Phủ, có cả hình ảnh ông chia vui chiến thắng, thăm hỏi thương bệnh binh. Chiếc áo bông đồng bào dân tộc Nùng may tặng ông khi về hoạt động xây dựng căn cứ kháng chiến Cao Bằng năm 1942 vẫn còn đó.
Con trai Đại tướng Võ Nguyên Giáp, ông Võ Hồng Nam, rưng rưng nói tại triển lãm về cha mình: “Thực sự chúng tôi rất xúc động, nhớ đến cha chúng tôi. Triển lãm đúng vào dịp 5 năm ông trở về cõi vĩnh hằng. Nó cũng nhắc lại giai đoạn lịch sử của dân tộc. Năm 1941, Bác Hồ đã chọn Việt Bắc làm chiến khu… Đến đây để nhìn thấy lại đồng chí, đồng bào, tướng lĩnh chiến sĩ quân đội đã cùng ông chiến đấu. Nhớ đến ông cũng là nhớ đến đồng chí, đồng bào... Triển lãm cũng là lời cảm ơn, tri ân các thế hệ tướng lĩnh, chỉ huy, chiến sĩ của các đơn vị Quân đội nhân dân VN - những người luôn giữ trọn 10 lời thề với nhân dân”.
Ông Nam cũng nhắc tới mong muốn của cha mình: đồng bào Việt Bắc được ấm no, hạnh phúc. “Năm 1941, Bác Hồ đã giao đường Nam tiến cho ba tôi phụ trách. Năm 1945, Bác Hồ đi trên con đường ấy về Tân Trào. Cha tôi nói phải cắm lại mốc để mọi người biết đến con đường Nam tiến ấy. Có một bản đồ ông vẽ đường Nam tiến từ Hà Nội về Thái Nguyên và Thái Nguyên về Hà Nội vạch ra từ năm 1941. Cái đó để mọi người biết đến con đường, đồng bào ở đó và giúp đỡ họ”, ông Nam cho biết.
Những tình cảm của người dân, người lính với Đại tướng sau này lại được gia đình đáp lễ sau khi ông mất. Ngày hôm nay, nhiều người lính xưa, trong đó có ông Dinh, lại đến thắp hương tại tư gia Đại tướng. Ông Nam cũng cho biết còn giữ liên lạc với nhiều người ở Việt Bắc xưa, trong đó có gia đình ông Đoàn Văn Hoan - đảng viên đầu tiên ở Bắc Kạn. “Gia đình ông Hoan giờ chỉ còn mẹ và con gái. Chúng tôi vẫn đến thăm. Chúng tôi cũng muốn sau này có những chương trình để mọi người biết đến cùng giúp đỡ, chứ đồng bào còn rất khó khăn”, ông Nam nói.
Triển lãm có trên 200 hình ảnh, hiện vật, gồm 3 chủ đề chính: Chiến khu Việt Bắc - cái nôi của cách mạng VN; Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ Chiến khu Việt Bắc đến ngày toàn thắng; và Đại tướng của nhân dân. Bảo tàng Lịch sử quân sự, Sở VH-TT-DL các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang và Lạng Sơn cùng phối hợp tổ chức triển lãm.
Trinh Nguyễn - Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó.

Lần cập nhật cuối ( Thứ sáu, 05 Tháng 10 2018 13:20 )
 
Trang 2 trong tổng số 109 trang.
Bạn đang ở: Trang chủ