Lịch âm dương

Xem tin theo ngày

< Tháng 12 2019 >
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30 31          

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay281
mod_vvisit_counterHôm qua2196
mod_vvisit_counterTuần này281
mod_vvisit_counterTuần trước17577
mod_vvisit_counterTháng này37666
mod_vvisit_counterTháng trước58008
mod_vvisit_counterTất cả6372230

Có: 4 khách trực tuyến

Tin tức - Sự kiện

Nâng cấp, mở rộng tuyến đường giao thông liên xã tại thị xã Ba Đồn

Email In PDF.
Tuyến giao thông cầu Quảng Hải đi các xã liên vùng sẽ có chiều dài khoảng 5km, nền đường rộng 5,5m -9,5m, được thi công bằng bê tông.
Ngày 29/10, Sở KH&ĐT Quảng Bình cho hay UBND tỉnh Quảng Bình vừa phê duyệt chủ trương đầu tư Dự án Nâng cấp, mở rộng tuyến đường giao thông từ cầu Quảng Hải đi các xã Quảng Lộc - Quảng Hòa - Quảng Minh - Quảng Sơn - Quảng Thủy, thị xã Ba Đồn.

Dự án này có tổng mức đầu tư 27 tỷ đồng, trong đó ngân sách tỉnh 16,2 tỷ đồng, ngân sách thị xã Ba Đồn 10,8 tỷ đồng.
Theo đó, tuyến đường sẽ có tổng chiều dài khoảng 5 km với điểm đầu tuyến tại ngã tư chân cầu Quảng Hải 2, điểm cuối tuyến tại ngã ba đường liên xã Quảng Hòa - Quảng Minh - Quảng Sơn. Chiều rộng nền đường từ 5,5m ÷ 9,5m. Mặt đường được thi công bằng bê tông xi măng.
Theo Sở KH&ĐT Quảng Bình, dự án sẽ do UBND thị xã Ba Đồn làm chủ đầu tư, mục tiêu của Dự án này nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa, đảm bảo an toàn giao thông, phục vụ công tác cứu hộ, cứu nạn, cải thiện vệ sinh môi trường, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội khu vực. Dự án được thực hiện trong giai đoạn 2019 - 2021.
Ngọc Tân
 

Điều đặc biệt của điếu văn Tổng bí thư Lê Duẩn đọc tại lễ truy điệu Bác Hồ

Email In PDF.
Điếu văn chứa đựng tình cảm, tinh hoa trí tuệ của các lãnh đạo: Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Tùng… và ông Đống Ngạc dành cho Người.

Ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời sau một cơn đau tim đột ngột. Trong một buổi họp bàn tổ chức tang lễ Người, Bộ Chính trị đã giao cho một số cán bộ chuẩn bị dự thảo điếu văn.
Theo tinh thần cuộc họp, lễ tang Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức với nghi lễ trọng thể nhất, tiến hành quốc tang trong 7 ngày (4 -10/9/1969).
Lễ viếng bắt đầu từ sáng ngày 6/9 tại hội trường Ba Đình, lễ truy điệu được tổ chức trọng thể vào ngày 9/9 tại quảng trường Ba Đình - nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945.
Tổng bí thư Lê Duẩn đọc điếu văn tại lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 9/9/1969. Ảnh tư liệu
Các đồng chí cố gắng viết xong trong đêm nay
Viết điếu văn là việc quan trọng nhất trong các khâu chuẩn bị tang lễ. Các cán bộ chịu trách nhiệm soạn thảo đã gấp rút gửi văn bản cho từng ủy viên Bộ Chính trị để xin ý kiến vào ngày 5/9/1969 và sáng 6/9/1969.
Chiều tối 6/9/1969, Bí thư thứ nhất BCH TƯ (một cách gọi khác chức danh Tổng bí thư) Lê Duẩn chủ trì cuộc họp Bộ Chính trị tiếp tục bàn về tổ chức lễ truy điệu và thông qua bản điếu văn dự thảo.
Hơn 21h, cuộc họp tạm dừng, bản dự thảo điếu văn chưa thông qua được, Bộ Chính trị giao cho Tổng bí thư Lê Duẩn chuẩn bị một văn bản khác.
Trở về nhà riêng, Tổng bí thư Lê Duẩn gặp tổ thư ký, trao cho anh em bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hai bản dự thảo điếu văn và nói: "Bộ Chính trị chưa thông qua hai bản dự thảo này, các đồng chí đọc thật kỹ Di chúc và dự thảo điếu văn rồi giúp tôi soạn thảo bản  khác, lễ truy điệu ấn định vào ngày 9/9, các đồng chí cố gắng viết xong trong đêm nay để ngày mai Bộ Chính trị họp tiếp, thời gian còn lại không nhiều".
Ông Đống Ngạc (thư ký của Tổng bí thư Lê Duẩn) và ông Đậu Ngọc Xuân (chuyên viên nghiên cứu của Văn phòng Tổng bí thư) được trao nhiệm vụ viết điếu văn. Tổng bí thư Lê Duẩn nói rõ những định hướng cơ bản, những vấn đề lớn mà điếu văn cần tập trung làm nổi bật.
Về hình thức, cách viết, Tổng bí thư dặn: Không rập theo lối viết văn điếu, lâm ly, bi ai thông thường, tránh câu chữ sáo mòn, lời văn cần giản dị, trong sáng mà trang trọng, hàm súc, lắng đọng, có sức truyền cảm, dễ đi vào lòng người…
Theo những định hướng, yêu cầu đề ra, trước khi viết điếu văn, hai ông đọc kỹ lại bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hai bản dự thảo điếu văn và điếu văn của Ăng-ghen đọc trước phần mộ Các Mác, điếu văn Stalin đọc vĩnh biệt Lênin, điếu văn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trong lễ vĩnh biệt cụ Hồ Tùng Mậu - một chiến sĩ cách mạng lão thành.
Hai giờ sau khi nhận nhiệm vụ trôi qua (từ 22- 24h) hai ông vẫn chưa viết được dòng nào. Đến hơn 1h sáng, ông Đống Ngạc mới đặt bút viết dòng đầu tiên. Còn ông Đậu Ngọc Xuân đột nhiên bị cảm mạo không thể gắng sức được.
Ông Đống Ngạc kể lại: "Thu xếp cho ông Xuân tĩnh dưỡng xong, quay lại bàn viết, ông xác định phải vượt lên chính mình, đúng như lời Bác “mỗi người làm việc bằng hai” thay bạn và lời của đồng chí Tổng bí thư: biến đau thương thành hành động cụ thể. Ông cầm bút viết câu đầu tiên: “Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không còn nữa...”.
Sức nghĩ sáng ra. Ngòi bút trong tay như có trớn, ông Đống Ngạc viết một mạch về nỗi đau mất Bác, về Bác: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, vị anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ cho dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta...”.
Cứ đà đó, tự tin, phấn khởi ông viết tiếp theo dàn bài. Đến phần ba nói về những quan điểm lớn trong tư tưởng Hồ Chí Minh và nhiệm vụ của những người còn sống hôm nay và mai sau, ông dừng tay suy ngẫm sâu hơn nữa, đối chiếu với những dòng ghi vội trong sổ tay lời dặn của Tổng bí thư Lê Duẩn và tìm cách diễn đạt, thể hiện sao cho thật ngắn gọn, súc tích, gây được ấn tượng mạnh mẽ.
Ông đọc lại bài điếu truy điệu V.Lênin có dạng thức lời thề, liền bắt lấy ý tưởng đó, hiện thực hoá bằng cách lặp lại những điệp khúc để khắc sâu vào lòng người: "Vĩnh biệt Người, chúng ta thề... đáp lại là hàng vạn cánh tay giơ cao: Xin thề! Xin thề! Xin thề!".
5 lời thề danh dự của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trước anh linh của Chủ tịch Hồ Chí Minh là 5 phần nội dung cốt lõi của điếu văn.
Phần cuối nêu bật 2 di sản quý báu mà Bác Hồ để lại trong thời đại Hồ Chí Minh, thời đại vinh quang nhất của lịch sử dân tộc, đó là: Độc lập - Tự do và Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Ông Đống Ngạc viết liền một mạch đến khoảng 5h sáng ngày 7/9/1969 mới tạm xong bài viết. Khi ông vừa đặt dấu chấm than kết thúc dòng cuối thì Tổng bí thư Lê Duẩn đề nghị được xem.
Từng lời, từng chữ làm rung động trái tim
Theo Tổng bí thư Lê Duẩn, cứ để bài viết như thế đem cho đánh máy, gửi các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem lại và góp ý trong buổi sáng họp hôm đó sửa luôn thể.
8h sáng 7/9, Bộ Chính trị và Ban Bí thư họp chung để tiếp tục xem xét chỉnh sửa và thông qua bản điếu văn. Các ủy viên Bộ Chính trị cho thêm nhiều ý, cân đối lại các phần cho hợp lý, chặt chẽ, sửa lại nhiều từ chuẩn xác, trong sáng, khúc chiết…
Khoảng 11h, bản điếu văn được Bộ Chính trị chấp nhận về cơ bản, ôngTố Hữu, ông Hoàng Tùng - ủy viên BCH TƯ Đảng cùng hai ông Đậu Ngọc Xuân và Đống Ngạc tổng hợp các ý kiến đóng góp để hoàn chỉnh.
13h ngày 7/9/1969, việc sửa chữa bản điếu văn mới tạm ổn. Đây là lần chỉnh sửa lớn, công phu nhất. Phải qua 4,5 lần sửa chữa, chỉnh lý nữa trên cơ sở ý kiến của các lãnh đạo trong Bộ Chính trị: Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…
Đến khoảng 20h ngày 7/9/1969, bản điếu văn mới được hoàn thiện. Tổng bí thư Lê Duẩn ký tắt cho đánh máy, chuyển sang Ban Đối Ngoại dịch ra 5 thứ tiếng Nga, Anh, Pháp, Trung Quốc, Tây Ban Nha.
Ông Đống Ngạc nhận xét, nếu so bản điếu văn đọc trong lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh với bản viết rạng sáng 7/91969 thì “bản điếu văn đã có nhiều từ ngữ chuẩn xác, nhiều đoạn, ý quan trọng sâu sắc và ý tứ nhuần nhuyễn hơn”.
Bản điếu văn của BCH TƯ Đảng đọc trong lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự là một văn kiện lịch sử đặc biệt quý giá, một áng văn hào hùng, xúc động, chứa đựng tình cảm, tâm huyết, tinh hoa trí tuệ của các lãnh đạo: Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Hoàng Tùng… và ông Đống Ngạc dành cho Người.
Kể từ ngày 9/9/1969, bản điếu văn của BCH TƯ Đảng đọc trong lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn sống mãi với thời gian. Từng lời, từng chữ trong văn kiện lịch sử đó vẫn làm rung động trái tim, tâm hồn nhân dân Việt Nam và bạn bè thế giới.
“...Trước anh linh của Hồ Chủ tịch, chúng ta nguyện suốt đời trung thành với Người, đem hết tâm hồn và nghị lực, đoàn kết thành một khối sắt thép, phấn đấu quên mình, quyết làm tròn nghĩa vụ cao cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân ta và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân thế giới.
Hồ Chủ tịch đã qua đời! Nhưng Người luôn luôn dẫn dắt chúng ta. Chúng ta vẫn cảm thấy có Người luôn luôn bên cạnh. Bởi vì chúng ta vẫn đi theo con đường của Người, tiếp tục sự nghiệp vĩ đại của Người. Bởi vì Người vẫn sống mãi với non sông đất nước, tên tuổi và hình ảnh của Người ngày càng khắc sâu trong trái tim, khối óc của mỗi chúng ta”.

Người thư ký tận tụy, tài năng của đồng chí Lê Duẩn, đã ra đi
Mặc dù biết đồng chí Đống Ngạc - nguyên Phó Văn phòng Trung ương Đảng, nguyên thư ký của Tổng Bí thư Lê Duẩn, thời gian gần đây sức khỏe có phần xấu đi và phải vào điều trị tại Bệnh viện E, nhưng sáng sớm hôm 28/6, nghe tin ông đã ra đi, nhiều người không khỏi bàng hoàng.
Đồng chí Đống Ngạc, sinh ngày 2/4/1925, tại xã Tam Đàn, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, quê hương giàu truyền thống cách mạng. Năm 14 tuổi, ông được vào học tại trường Quốc học Huế. Học hết chương trình tú tài phần I, ông "xếp bút nghiên", đi theo cách mạng và tham gia khởi nghĩa giành chính quyền tại Huế.

Đồng chí Đống Ngạc (1925-2010)
Tháng 9/1945, ông gia nhập quân đội và được phiên chế về Đại đội 4, Chi đội do đồng chí Võ Quang Hồ chỉ huy (đồng chí Võ Quang Hồ sau này là Phó Cục trưởng Cục Tác chiến - Bộ Tổng Tham mưu - Quân đội nhân dân Việt Nam).
Tháng 10/1945, đơn vị ông tham gia đoàn quân Nam tiến, cùng quân và dân Khánh Hoà chống thực dân Pháp, bảo vệ thành phố Nha Trang. Ông không may bị thương. Vì vết thương quá nặng nên ông được trở về quê hương. Tại quê ông lúc đó, mọi người đều tập trung cho việc tiến hành kháng chiến.
Theo yêu cầu của Ủy ban Việt minh xã, người thanh niên đất Quảng quyết tâm vượt lên thương tật, nhận nhiệm vụ làm chính trị viên dân quân xã đồng thời gia nhập Đoàn Thanh niên cứu quốc. Công tác ở xã được một thời gian, ông được cử đi dự Đại hội Đoàn thanh niên cứu quốc huyện Tam Kỳ và được bầu làm Bí thư thanh niên huyện. Chặng đường công tác Đoàn đã giúp ông phấn đấu lên đến chức Ủy viên Thường vụ Trung ương Đoàn, phụ trách nông nghiệp.
Tháng 4/1962, ông Đống Ngạc được tổ chức phân công về công tác tại Văn phòng Trung ương Đảng, trở thành thư ký của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam.
Thời gian làm thư ký cho đồng chí Lê Duẩn kéo dài 24 năm 3 tháng. Gần 1/4 thế kỷ ấy, ông Đống Ngạc đã mang toàn bộ tâm lực và trí tuệ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Thời kỳ này là thời kỳ khó khăn, phức tạp của cách mạng Việt Nam, đất nước tạm chia làm hai miền, cả dân tộc phải gồng mình tiến hành cuộc chiến tranh chống Mỹ, cứu nước, quyết tâm giành thắng lợi. Mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất, cả nước đi lên xây dựng CNXH; đó là thời kỳ đất nước khôi phục kinh tế sau chiến tranh và kiên cường bảo vệ Tổ quốc, phá vòng vây cấm vận của các thế lực thù địch để cả dân tộc ta bước vào công cuộc đổi mới.
Các đồng chí giúp việc của đồng chí Lê Duẩn, nhất là đội ngũ cán bộ khoa học, lý luận, hoạt động thực tiễn giàu trí tuệ và tâm huyết như các đồng chí Nguyễn Đức Bình, Đậu Ngọc Xuân, Nguyễn Khánh, Trần Quỳnh, Trần Phương, Hà Đăng, Việt Phương, Phạm Quang Cận... đều đánh giá cao công lao của ông Đống Ngạc về việc tổ chức chấp bút, và hoàn thiện cuối cùng, các bản thảo bài viết chỉ đạo nhiệm vụ cách mạng của đồng chí Lê Duẩn trong kháng chiến cũng như trong hòa bình. Đồng nghiệp và các đồng chí gần gũi ông đều đánh giá ông là một người cộng sản, người thư ký tận tụy, tận trung và giàu trí tuệ.
Đặc biệt, ông được anh Ba tin tưởng giao chấp bút Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam để đọc tại lễ truy điệu Hồ Chủ tịch.
Ngày 6/9/1969, hơn 9h tối, vừa đi họp Bộ Chính trị về, anh Ba cho gọi ông Đống Ngạc và ông Đậu Ngọc Xuân lên phòng làm việc ở số 6 - Hoàng Diệu. Anh Ba trầm ngâm, đưa cho bản Di chúc của Bác Hồ (văn bản mà Bộ Chính trị quyết định công bố trong lễ truy điệu Hồ Chủ tịch) và giao nhiệm vụ:
- Các đồng chí chuẩn bị giúp tôi bản điếu văn để đọc tại lễ truy điệu Bác.
Nhận nhiệm vụ xong, các đồng chí thư ký nhận thức rất rõ rằng, công việc được giao là một vinh dự rất lớn nhưng hết sức khó khăn, vượt quá sức mình. Chưa kịp định thần trước nhiệm vụ được giao thì anh Ba chỉ đạo: "Về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ đã ăn sâu vào trí nhớ của mỗi người dân Việt Nam. Vì thế điếu văn vĩnh biệt Người không nên viết theo công thức. Phải làm sao thông qua điếu văn nêu bật được những tư tưởng lớn của Người để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta thấu suốt hơn nữa, lấy đó làm mục tiêu phấn đấu, quyết biến sự nghiệp của Người thành hiện thực. Các chú chú ý đến văn phong, lời lẽ phải trang trọng, sâu sắc, cô đọng; văn chương phải có hồn và đi vào lòng người. Cố gắng làm xong trong đêm nay để kịp sáng mai Bộ Chính trị thông qua.
Sau khi nhận nhiệm vụ, Tổ thư ký hội ý và xây dựng dàn bài. Quá 12h đêm, các đồng chí vẫn chưa viết được đoạn nào. Ngồi trước trang giấy, ông Đống Ngạc hình dung trước mặt là hình ảnh Bác Hồ, người có công lao trời biển và hy sinh cống hiến trọn đời cho sự nghiệp cách mạng. Người đã làm rạng rỡ dân tộc và non sông đất nước ta. Nay Người đã ra đi! Dân tộc ta đứng trước một tổn thất, một đau thương lớn lao vô cùng. Thế là, ông trào dâng niềm tiếc thương và xúc động vô hạn rồi cố gắng hoàn thành bản thảo.
Sáng hôm sau, anh Ba dậy sớm hơn mọi ngày và cho gọi Tổ thư ký chuyển bản thảo lên đọc cho anh nghe. Nghe xong, anh Ba chỉ thị: Về cơ bản là được, các chú cần suy nghĩ thêm đoạn nói về tư tưởng của Bác, nội dung 5 lời thề và cân nhắc thêm về từ ngữ. Dừng lại nhìn các học trò của mình, chắc thấy sắc mặt nhợt nhạt vì thiếu ngủ, anh Ba động viên: Nhưng thôi, các chú thức suốt đêm chắc là mệt lắm, hãy cứ để như thế cho đánh máy rồi lấy thêm ý kiến của các đồng chí trong Bộ Chính trị và Ban Bí thư, sau đó sửa chữa một thể.
Sau khi đánh máy và lấy ý kiến của một số đồng chí lãnh đạo cấp cao, sáng 8/9, Tổ thư ký trình anh Ba bản điếu văn chính thức. Anh xem và nói: Tôi nói giọng miền Trung, đồng bào ngoài Bắc khó nghe, tôi phải đọc trước mới được.
Đọc được mấy dòng, anh nghẹn lại, hai hàng lệ cứ lăn dài trên gò má làm nhoà cả kính. Nhìn anh Ba khóc, mọi người càng hiểu tình cảm của anh với Bác Hồ kính yêu, tất cả không ai cầm được nước mắt.

Đồng chí Đống Ngạc tháp tùng đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất
Ban chấp hành TW Đảng thăm trung tâm thương mại Đà Nẵng năm 1975
Đánh giá công lao của đồng chí Đống Ngạc, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng đồng chí: Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước hạng Nhất, Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng.
Ông còn là thành viên trong tập thể tác giả được Nhà nước tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về tác phẩm: "Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 - thắng lợi bài học" do Ban chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị chỉ đạo biên soạn.
Theo Nguyễn Đức Quý (CAND)
Trương Xuân Mai (cán bộ Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phủ Chủ tịch)
Lần cập nhật cuối ( Thứ ba, 03 Tháng 9 2019 08:19 )
 

Chuyện cây sâm Bố Chính trên đất Quảng Bình

Email In PDF.
(QBĐT) - Sâm Bố Chính được biết đến đầu tiên tại Quảng Bình cách đây khoảng 300 năm. Đây là một trong những sản vật quý được người xưa dùng để tiến vua. Với những giá trị mà sâm Bố Chính mang lại, Công ty TNHH Nông nghiệp công nghệ cao Tuệ Lâm (Công ty Tuệ Lâm) đã quyết định đưa cây sâm Bố Chính về lại cội nguồn.
Sâm Bố Chính
Sản vật quý
Sâm Bố Chính hay còn được gọi là: thổ hào sâm, sâm núi, sâm khu năm… có tên khoa học là Abelmoschus sagittifolius, thuộc họ cẩm quỳ. Theo các tài liệu, sâm Bố Chính phân bố chủ yếu ở các tỉnh miền Trung từ Thanh Hóa đến Phú Yên, ngoài ra còn tìm thấy ở các tỉnh miền núi phía Bắc, như: Sơn La, Hòa Bình… Sở dĩ có tên gọi Bố Chính vì cây sâm này được phát hiện và sử dụng làm dược liệu đầu tiên ở Châu Bố Chính (nay là vùng Bố Trạch, Quảng Trạch).
Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Hoàng Đăng Quang thăm mô hình trồng thử nghiệm sâm Bố Chính của Công ty Tuệ Lâm.
Từ lâu, cây sâm Bố Chính đã được đánh giá là một vị thuốc quý, được ghi trong cuốn sách nổi tiếng “Những cây thuốc vị thuốc Việt Nam” của GS. Đỗ Tất Lợi. Theo các lương y, sâm Bố Chính có tác dụng: bồi bổ cơ thể, tăng sức đề kháng, tăng cường tiêu hoá, hạ sốt, giảm ho, thông tiểu tiện, điều hòa kinh nguyệt…
Đặc biệt, trước đây, sâm Bố Chính là một trong những sản vật quý được người Quảng Bình dùng để tiến vua, bởi thế nó còn được gọi là “sâm tiến vua”.
Th.s Nguyễn Phương Văn, giảng viên Khoa Nông-Lâm-Ngư, Trường Đại học Quảng Bình, cho biết: “Giá trị của sâm Bố Chính đã được khẳng định từ lâu, nhiều nhà khoa học đánh giá các thành phần của loài sâm này tương đương với sâm của Hàn Quốc. Việc phát triển loài sâm Bố Chính trên đất Quảng Bình có ý nghĩa kinh tế rất lớn”.
Tại buổi giao lưu, hợp tác chuyển giao công nghệ và phát triển thương hiệu sâm Bố Chính tại Quảng Bình, ông Lee Son Soek, Cố vấn sâm của Tập đoàn Nonghyup (Hàn Quốc) cũng đã đánh giá cao sản phẩm sâm Bố Chính. Ông khẳng định, đây là một loại sâm có kích thước củ to, hình dáng đẹp, chất lượng tốt, tạo điều kiện thuận lợi trong việc phát triển thương hiệu riêng cho sản phẩm.
Xây dựng thương hiệu cho “thủ phủ sâm”
Do có giá trị cao nên sâm Bố Chính trong tự nhiên bị khai thác quá mức và trở nên cạn kiệt. Nhiều doanh nghiệp, nông trại ở các địa phương trong nước, như: Long An, Vĩnh Phúc, Đồng Tháp…, đã phát triển trồng cây sâm Bố Chính và thu được kết quả tốt.
Tuy nhiên, sản lượng sâm trồng chưa nhiều và không đáp ứng đủ nhu cầu cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Trước thực tiễn đó, Công ty Tuệ Lâm đã triển khai thực hiện dự án "Xây dựng chuỗi liên kết trồng, chế biến và tiêu thụ cây sâm Bố Chính tại tỉnh Quảng Bình".
Theo kế hoạch, dự án trồng tập trung tại nông trại của Công ty 50 ha, liên kết với người dân trong vùng trồng khoảng 500 ha nhằm đáp ứng đủ nguyên liệu cho chế biến. Đồng thời, Công ty sẽ xây dựng nhà xưởng chế biến, đầu tư các trang thiết bị hiện đại để sản xuất các sản phẩm có chất lượng cao, an toàn và có giá cả hợp lý. Bên cạnh đó, Công ty cũng đẩy mạnh công tác quảng bá, giới thiệu sản phẩm nhằm giải quyết tốt đầu ra cho người sản xuất.
Hiện, Công ty Tuệ Lâm đã triển khai trồng 25 ha sâm Bố Chính tại huyện Bố Trạch và TP. Đồng Hới, tạo việc làm cho gần 100 lao động địa phương, có 5 hộ gia đình tham gia chuỗi liên kết.
Với điều kiện thuận lợi về thổ nhưỡng, thời tiết phù hợp, Công ty đã triển khai hệ thống giàn tưới tự động nhập khẩu từ Thổ Nhĩ Kỳ trên toàn bộ diện tích sản xuất, đưa quy trình tiêu chuẩn VietGAP, GACP-WHO vào trồng, chăm sóc và thu hoạch, tạo ra sản phẩm chất lượng, an toàn và năng suất cao.
Cùng với đó, Công ty Tuệ Lâm đã sang Hàn Quốc nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm sản xuất sâm từ các công ty của nước bạn. Công ty đã được Tập đoàn Nonghyup, đối tác Hàn Quốc uy tín trên thị trường sâm và lĩnh vực nông nghiệp đồng ý cung ứng, chuyển giao dây chuyền chế xuất sâm hiện đại nhất Hàn Quốc. Chuỗi dây chuyền sản xuất này hứa hẹn có thể sản xuất các sản phẩm, như: sâm tươi, sâm khô, kẹo sâm, nước chiết xuất từ sâm…
Công ty Tuệ Lâm đã triển khai hệ thống giàn tưới tự động
nhập khẩu từ Thổ Nhĩ Kỳ trên toàn bộ diện tích sản xuất sâm Bố Chính
Đặc biệt, vừa qua, Công ty Tuệ Lâm đã ký kết một hợp đồng lớn, trở thành đơn vị độc quyền cung ứng sâm Bố Chính cho Công ty CP Tập đoàn dự án Hoàng Gia (Tập đoàn Hoàng Gia). Hợp đồng đầu tiên sẽ được hai công ty ký kết cung ứng 100 tấn sâm.
Bên cạnh đó, Tập đoàn Hoàng Gia cũng cam kết cung ứng và chuyển giao công nghệ chế biến và sản xuất sâm hiện đại nhất cho Tuệ Lâm trong thời gian tới. Sự hợp tác giữa Hoàng Gia và Tuệ Lâm sẽ mở ra một kỷ nguyên mới cho ngành sâm Việt Nam.
Ông Lê Đức Hạnh, Giám đốc Công ty Tuệ Lâm, cho biết: “Việc trồng sâm và xây dựng thương hiệu riêng cho sản phẩm sẽ mở ra hướng đi mới trong sản xuất nông nghiệp tại Quảng Bình, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân. Đơn vị đã ký cam kết bảo đảm lãi 200 triệu đồng/ha/năm cho người nông dân, mức lãi này cao hơn trồng sắn 10 lần”.
Nhân dịp đến thăm mô hình trồng thử nghiệm cây sâm Bố Chính trong tháng 10 vừa qua, đồng chí Hoàng Đăng Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đã biểu dương sự mạnh dạn của Công ty Tuệ Lâm trong việc đưa giống cây dược liệu mới vào trồng thử nghiệm trên đất Quảng Bình.
Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh, sản xuất nông nghiệp công nghệ cao hiện đang là chủ trương được tỉnh khuyến khích đầu tư. Việc đưa vào trồng những giống cây mới để chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng là một trong những hướng đi đúng trong thời điểm biến đổi khí hậu như hiện nay.
Với những thành công bước đầu của mô hình, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy mong muốn Công ty sẽ tiếp tục đầu tư vốn, kỹ thuật để phát triển sản xuất và tạo dựng thương hiệu cho sâm Bố Chính của Quảng Bình trong tương lai gần.
Lê Mai
 

Sâm bố chính – Sự thật về loại nhân sâm giá rẻ của người Việt

Email In PDF.
Sâm bố chính không chỉ là một loài hoa đẹp, đây còn là một dược liệu thiên nhiên có tác dụng cực kỳ tốt cho sức khỏe - Được ví như một loại sâm. Ở bài viết này chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu những công dụng của cây sâm bố chính.
Sâm bố chính hay còn được gọi là sâm Phú Yên, sâm khu năm, thổ hào sâm (Nghệ An), sâm báo (Thanh Hóa)…. Từ lâu sâm bố chính đã được đánh giá là một vị thuốc quý, đã được ghi trong cuốn sách nổi tiếng – “Những cây thuốc vị thuốc Việt Nam” của Giáo sư Đỗ Tất Lợi .
Cây có tên Sâm bố chính bởi loài cây này được phát hiện đầu tiên ở huyện Bố Trạch – Quảng Bình (1).
Tên khoa học
Abelmoschus sagittifolius. Thuộc họ cẩm quỳ (Hay còn gọi: Họ bông, họ dâm bụt) (2)
Khu vực phân bố
Theo các tài liệu sâm bố chính thường mọc hoang ở các tỉnh miền Trung như: Phú Yên, Bình Đinh, Quảng Nam nên mới có tên gọi khác là sâm khu 5 hay sâm Phú Yên.
Ngoài ra người dâ cũng tìm thấy sâm bố chính mọc dải dác ở các tỉnh miền núi phía Tây Bắc và một số tỉnh miền Trung như: Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An.
Bộ phận dùng
Tòa bộ phần củ sâm là bộ phận được dùng làm thuốc.
Cách chế biến và thu hái
Sâm bố chính có thể thu hoạch sau 1 năm trồng trở lên (Sâm càng lâu năm có giá trị dược tính càng cao), thời điểm thu hoạch vào mùa thu đông hàng năm. Có hai cách chế biến sâm bố chính đó là chế biến dạng khô và dạng tươi. Cách chế biến sâm ở dạng tươi:
Cách chế sâm tươi: Củ sâm đào về đem rửa sạch (Dùng bài trả trà sạch đất cát hoặc dùng vòi sịt cao áp để rửa). Sau đó đem ngâm nước vo gạo 1 đêm, rửa sạch, để dáo nước rồi đem ngâm trực tiếp với rượu 40 – 45 độ.
Cách chế biến củ khô: Để chế biến củ khô ta làm các công đoạn như cách ngâm tươi. Sau khi ngâm nước vo gạo, sẽ tiến hành thái mỏng để phơi khô hoặc để nguyên củ phơi khô. Sau đó đóng gói, bảo quản dần để làm thuốc.
Thành phần hóa học
Theo các nhà khoa học sâm bố chính có dược tính rất cao, dược tính sâm bố chính được cho là tương đương nhân sâm Hàn Quốc và chỉ thua dược tính sâm Ngọc Linh. Vì lý do đó mà đất nước được mệnh danh là xứ sở của nhân sâm hiện đang là đối tác nhập khẩu sâm bố chính hàng đầu của nước ta.
Theo thống kê thành phần hóa học sâm bố có tinh bột, chất nhầy (Đang nghiên cứu thành phần của chất này).
Mới đây các nhà nghiên cứu còn tìm thấy trong sâm bố chính có một quinone mới sesquiterpenoid, Acyl hibiscone B, cùng với năm hợp chất được biết đến: R-lasiodiplodin, (R)-de-O-methyllasiodiplodin, dibutyl phthalate, (R) – 9-phenylnonan-2-ol và hibiscone B. Đặc biệt các nhà nghiên cứu nhận thấy hợp chất Acyl hibiscone B cho thấy độc tính tế bào đáng kể chống lại các dòng tế bào ung thư ở người Hela và HepG-2 (3).

Ảnh cây tươi

Ảnh củ tươi

Ảnh củ khô
Tính vị
Sâm bố chính có vị ngọt, tính mát. Vào các kinh tâm và thận.
* Công dụng của sâm bố chính
Theo y học cổ truyền sâm bố chính có một số tác dụng chính như sau (1):
+ Điều trị ho
+ Tác dụng hạ sốt
+ Tác dụng bồi bổ cơ thể (1)
+ Tăng cường chức năng tiêu hóa (1)
+ Điều hòa kinh nguyệt
+ Hỗ trợ điều trị ung thư (3)
Cách dùng, liều dùng
Cách dùng dưới đây được dựa theo kinh nghiệm dân gian (1)
+ Cách ngâm rượu độc vị sâm bố chính là thuốc bổ, kiện tiêu hóa: Sâm bố chính khô 1kg (Hoặc tươi 3kg) ngâm với 4 lít – 5 lít rượu 40 độ. Ngâm trong thời gian khoảng 1 tháng trở lên là dùng được. Rượu sâm bố chính có mùi thơm, vị ngọt nhẹ uống rất hay.
+ Cách ngâm kết hợp làm thuốc tăng cường sinh lý: Sâm bố chính khô 1kg, sâm cau khô 1kg, dâm dương hoắc 300g. Các vị đem sao vàng hạ thổ rồi ngâm với 10 lít – 12 lít rượu. Ngâm trong thời gian 1 tháng trở lên là dùng được. Cách ngâm này có công dụng tăng cường sinh lý, điều trị xuất tinh sớm, di tinh, mộng tinh rất hay.
+ Thuốc điều trị ho: Sâm bố chính khô 10g, cam thảo bắc 8g. Đun với 500ml nước, đun cạn còn 200ml, chia 2 lần uống trong ngày.
+ Thuốc hạ sốt: Bố chính khô 15g, nhục quế, 4g. Đun nước uống trong ngày.
+ Thuốc điều hòa kinh nguyệt: Sâm bố chính, ngải cứu, ích mẫu (Mỗi vị 10g) sắc uống liên tục 1 tuần.
Lưu ý khi sử dụng
Nên chọn mua sâm tự nhiên, hoặc sâm trồng trên đất đồi sẽ có chất lượng tốt hơn sâm được trồng trong chậu cảnh hoặc trồng công nghiệp, trồng dưới đồng bằng.
Mua sâm bố chính ở đâu, địa chỉ bán sâm Phú Yên ?
Với rất nhiều công dụng hữu ích, giá rẻ nhưng lại rất bổ dưỡng đối với cơ thể. Đây sẽ là một trong những loại dược liệu cần nhân rộng trong thời gian tới. Quý vị và các bạn nếu có nhu cầu mua loại dược liệu này hãy liên hệ với chúng tôi để mua được sản phẩm có chất lượng tốt nhất.
Giá sâm tươi: 390.000đ/kg
* Giá sâm khô: 790.000đ/kg
* Xuất xứ: Phú Yên
* Tình trạng: Thu hoàn toàn từ rừng
* Quy cách đóng gói: Túi nilon 1kg
* Hình thức bảo quản: Phơi khô
Có gửi hàng trên toàn quốc: (ĐT 0978 784411)

Lần cập nhật cuối ( Thứ tư, 21 Tháng 8 2019 14:59 )
 
Trang 3 trong tổng số 113 trang.
Bạn đang ở: Trang chủ