Lịch âm dương

Xem tin theo ngày

< Tháng 12 2022 >
T2 T3 T4 T5 T6 T7 CN
      1 2 3
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29 30 31  

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay3129
mod_vvisit_counterHôm qua6882
mod_vvisit_counterTuần này21883
mod_vvisit_counterTuần trước8493
mod_vvisit_counterTháng này17915
mod_vvisit_counterTháng trước48617
mod_vvisit_counterTất cả13059216

Có: 7 khách trực tuyến

Trao Đổi

Quý bà Sài Gòn "bao" nhân tình trẻ nhận kết đau lòng

Email In PDF.
Thuê thám tử theo dõi, người đàn ông Pháp phát hiện vợ đã lấy một số tiền lớn của anh để mua nhà và ‘nuôi’ nhân tình ở TP.HCM. Ngay lập tức, anh cắt hết liên lạc và ngừng chu cấp cho chị.

Trong quá trình làm việc, thám tử Nguyễn Trọng Đại (SN 1978, TP.HCM) từng tiếp nhận hồ sơ của một vị khách người nước ngoài.
Cách đây khoảng 8 tháng, anh Pierre (SN 1973, Pháp), đã nhờ chị Nguyễn Thị Dung (SN 1977), một người bạn Việt Nam, mang hồ sơ đến gõ cửa văn phòng thám tử của anh Đại. Người đàn ông Pháp muốn nam thám tử này tìm hiểu thông tin về người vợ của anh đang ở TP.HCM.
Theo đó, Pierre làm công việc kinh doanh bán lẻ tại Pháp. Anh quen với một cô gái Việt Nam tên là Trần Phương Mai (SN 1980) khi cô sang làm giúp việc ở đây.
Mai có vẻ ngoài không mấy xinh đẹp nhưng bù lại chị là người phụ nữ chăm chỉ, biết vun vén cho gia đình. Vì vậy anh Pierre thấy quý mến và nảy sinh tình cảm. Sau đó, họ về chung sống với nhau gần 1 năm nhưng chưa có con. Cuộc sống vợ chồng diễn ra một cách êm đẹp.
Thế nhưng, chính Mai là người khởi điểm cho những nghi ngờ khiến anh Pierre phải thuê thám tử theo dõi.

Ảnh: VietNamNet
Lấy lý do xa quê hương lâu ngày, chị Mai xin phép chồng được về thăm gia đình. Nghe vậy, anh Pierre không mảy may suy nghĩ và lập tức đồng ý. Thế nhưng trước khi trở về, Mai đã giấu Pierre gửi một số tiền lớn về Việt Nam.
Vợ chồng xa nhau lâu ngày nên nhớ vợ, anh Pierre giục Mai quay trở lại Pháp. Tuy nhiên liên tục lấy nhiều lý do khác nhau, Mai mãi không quay lại.
Nghi ngờ về Mai, anh Pierre đã dự định thực hiện chuyến bay về Việt Nam để thăm và tìm hiểu về vợ. Thế nhưng, công việc kinh doanh của anh Pierre bận tối tăm mặt mũi cả ngày nên anh không thể sắp xếp được thời gian về Việt Nam.
Cuối cùng, những sự thật về vợ của người đàn ông Pháp cũng được hé lộ. Anh Đại chia sẻ, anh phải khá vất vả mới tiếp cận được nơi ở của Mai ở TP.HCM. Qua tìm hiểu, được biết ngay khi bay về từ Pháp, Mai đã dùng số tiền của chồng để mua một căn hộ chung cư ở quận 9 (TP.HCM).
Thế nhưng, bất ngờ hơn cả là Mai chỉ về thăm bố mẹ và người thân trong vài ngày. Sau đó, Mai gặp gỡ với người yêu cũ. Người đàn ông này đã có vợ con cho nên thỉnh thoảng, anh ta mới ghé chung cư của Mai để “ôn lại” tình xưa.
Không hiểu lý do vì sao, một thời gian sau, Mai chia tay tình cũ này. Sau đó, chị tiếp tục "nuôi" một người đàn ông ngoại quốc khác bằng số tiền chồng chu cấp.
Trong thời gian dài ở Việt Nam, Mai đều được anh Pierre chu cấp một số tiền lớn vì anh nghĩ rằng Mai đang về thăm gia đình và lưu lại ở đó lâu hơn. Toàn bộ thông tin này, anh Đại cung cấp cho chị Dung. Nhờ đó, chị Dung lập tức chuyển lại cho anh Pierre.
Chia sẻ với anh Đại, chị Dung cho biết, sự thật về Mai khiến anh Pierre khá sốc. Bởi vì anh đã dành trọn tình cảm và sự tin tưởng cho Mai. Vậy mà bấy lâu nay, Mai chỉ lợi dụng anh hòng kiếm một số tiền lớn. Từ đó, chị ta đem đi đối đãi với những nhân tình ở ngoài.
Ngay sau biết sự thật này, anh Pierre đã cắt hết liên lạc và ngừng chu cấp cho Mai. Chuyện tình của họ cũng phải đặt dấu chấm kết thúc bởi hai người chưa đăng ký kết hôn ở Pháp.
Anh Đại cho biết, thông qua lời kể của chị Dung, anh Đại được biết Pierre rất yêu thương Mai và luôn dành cho chị những điều kiện tốt nhất. Nhưng Mai lại không biết trân trọng tình cảm của người đàn ông ngoại quốc này dành cho mình.
*Tên nhân vật trong bài được thay đổi.
Theo Vietnamnet
Lần cập nhật cuối ( Chủ nhật, 04 Tháng 12 2022 01:31 )
 

Có nên dùng nước nóng để rửa bát không?

Email In PDF.
Vào mùa đông, nhiều người thích dùng nước nóng để rửa bát. Vậy việc làm này có đúng không?
Vào mùa đông, rửa bát bằng tay thực sự là nỗi ám ảnh của các bà nội trợ bởi khi đó nước rất lạnh, mỗi khi đưa tay xuống nước sẽ khiến bạn có cảm giác tay bị buốt cóng rất khó chịu. Bên cạnh đó, dầu mỡ thừa trên bát đĩa lại càng khó xử lý vì chúng dễ đông cứng khi gặp nước lạnh, khiến bát đĩa sau khi rửa xong vẫn còn cảm giác nhờn dính, kém sạch sẽ. Nhiều người đã lựa chọn giải pháp sử dụng nước nóng để rửa bát, vậy việc làm này có đúng không? Trên thực tế, cách làm này có nhiều ưu điểm như sau:

1. Lợi ích của việc sử dụng nước nóng để rửa bát
Rửa bát bằng nước nóng mang lại nhiều lợi ích tuyệt vời, lại còn giúp đảm bảo an toàn cho sức khỏe gia đình bạn.Cụ thể:
- Rửa bát, đũa trong nước nóng với nước rửa bát giúp nhanh chóng làm sạch vết bẩn, dầu mỡ. Việc này vừa giảm thiểu thời gian cọ rửa bát đĩa vừa giúp tiết kiệm nước rửa bát tối ưu.
- Ngoài ra, khi rửa bát bằng nước nóng có thể khiến vi khuẩn trong bát đĩa bị tiêu diệt ngay lập tức, điều này giúp khử trùng sạch sẽ nhất cho bát đĩa của gia đình bạn.
- Nhiệt độ nước dưới 30 độ sẽ để lại một lớp dầu mỡ khó chịu trên đồ vật khi chúng được sử dụng vào bữa ăn sau đó. Vì vậy rửa bát bằng nước nóng sẽ cắt giảm lượng dầu mỡ còn bám trên bát đĩa, hiệu quả tối ưu hơn so với nước lạnh.
Mặc dù đem lại nhiều lợi ích như vậy nhưng nhiều bà nội trợ vẫn chưa biết cách tận dụng những ưu điểm của nước nóng để bát đĩa được sạch sẽ nhất. Dưới đây là một số mẹo nhỏ rất hữu ích giúp bạn sử dụng nước nóng đúng cách khi rửa bát

2- Mẹo nhỏ khi rửa bát bằng nước nóng
- Hộp nhựa đựng thức ăn, xoong, chảo… bị dính dầu mỡ, bạn chỉ cần ngâm vào nước nóng có pha chút muối rồi rửa sạch bằng nước rửa bát, không chỉ hết dầu mỡ mà còn khử sạch mùi hôi, thức ăn bám vào đồ vật.
- Với cốc, bát bằng nhựa, bạn nên ngâm với nước nóng, sau đó rửa sạch bằng nước rửa bát rồi tráng lại bằng nước nóng. Việc này không chỉ giúp bát đĩa sạch nhanh chóng mà còn giúp bát đĩa nhanh khô, không bị ẩm mốc, không ảnh hưởng đến sức khỏe khi sử dụng lần sau.
- Các vật dụng bằng tre như đũa, thớt,… bạn nên ngâm vào nước nóng, vừa giúp khử trùng vừa giúp tối ưu thời gian làm sạch. Khi đồ có dấu hiệu bị nấm, mốc, dùng nước nóng ngâm khoảng 2 - 3 lần, các vết mốc sẽ biến mất.
Mặc dù việc rửa bát diễn ra hàng ngày, nhưng nhiều chị em vẫn mắc phải một số sai lầm độc hại khi rửa bát. Dưới đây là một số sai lầm điển hình của chị em:
3. Những sai lầm điển hình khi rửa bát
- Chà một đống đũa vào nhau
Nhiều người có thói quen cọ cả đống đũa vào nhau vì cho rằng nó nhanh chóng, tiện lợi và sạch sẽ. Tuy nhiên, cách làm này sẽ làm hỏng lớp bảo vệ bên ngoài của đũa, vô tình tạo ra những vết nứt nhỏ khiến bề mặt đũa thô ráp, trở thành môi trường thuận lợi cho vi sinh vật phát triển. Việc làm này có thể gây ra sự lây nhiễm chéo các vi sinh vật có hại hoặc các bệnh truyền nhiễm từ đũa của người này sang đũa của người khác.
Tốt nhất bạn nên dùng miếng bọt biển rửa bát lau từng chiếc đũa để loại bỏ dầu mỡ và bọt xà phòng trên chúng. Nếu đũa bị dính dầu mỡ, bạn có thể rửa bằng nước nóng trước, rửa sạch rồi đem phơi hoặc phơi nắng cho khô.

- Không sử dụng khăn lau bát đĩa riêng
Một số người vì muốn tiết kiệm hoặc có thể vì tiện lợi nên chỉ cần dùng một chiếc khăn để rửa bát và lau bàn bếp, thậm chí lau bát sau khi rửa. Tuy nhiên, điều này rất có hại vì vô tình sẽ khiến vi khuẩn lây lan từ nơi này sang nơi khác, đặc biệt vi khuẩn bám vào bát đĩa khi sử dụng sẽ gây hại cho sức khỏe.
- Không lau khô bát đĩa trước khi cất
Nhiều người sau khi rửa xong đã cất ngay bát đĩa vào tủ để tránh bụi, tuy nhiên môi trường kín, ẩm ướt có thể khiến vi khuẩn sinh sôi. Đũa xếp chồng lên nhau khi chưa khô cũng có thể gây mùi và kém sạch sẽ. Nếu bạn không có máy rửa bát, khi rửa xong, hãy lau khô bằng khăn ẩm, sau đó cất đi. Nên đặt bát đĩa ở nơi thoáng, khô ráo để đảm bảo bát đĩa sạch sẽ, khô ráo cho lần sử dụng sau.
Theo Anh Nhiên - Vietnamnet
Lần cập nhật cuối ( Chủ nhật, 07 Tháng 8 2022 12:57 )
 

5 bài thuốc Đông Y hỗ trợ điều trị mất ngủ theo từng nguyên nhân

Email In PDF.
(VOH) - Đưa giấc ngủ quay về đúng nhịp sinh học tự nhiên của cơ thể là mục tiêu trong điều trị mất ngủ, khó ngủ.
Dưới cách nhìn của y học phương Đông, chứng mất ngủ hoặc khó ngủ gây ra bởi có sự rối loạn ở 3 tạng: Tâm, Can, Thận mà thành. Tùy vào các thể bệnh mà có triệu chứng và bài thuốc điều trị khác nhau, cơ bản vẫn dựa trên tác dụng dược lý từ cây mắc cỡ - theo tư vấn từ lương y Nguyễn Công Đức, nguyên giảng viên Đại học Y dược TPHCM.

- Thể mất ngủ do chứng Can hỏa vượng:
* Triệu chứng: Nhức đầu, mất ngủ, mặt đỏ, táo bón, nước tiểu đỏ, lưỡi vàng chót lưỡi đỏ.
* Phương cách điều trị: Bình can - giáng hỏa - an thần - nhuận trường.
* Bài thuốc:
Đậu đen - 40gr;
Cây mắc cỡ (còn có tên là trinh nữ, cỏ thẹn) 20g - lưu ý: chỉ dùng cây tím, thân suông - không dùng cây trắng, thân có gai;
Nhân trần (loại có xuất xứ từ Tây Ninh) - 40gr;
Lá vông nem - 20gr;
Lá Muồng trâu - 10gr.
Tất cả nấu với 4 chén nước (800ml) sắc còn 1 chén rưỡi. Uống lúc đói, ngày 3 lần, mỗi lần nửa chén (100ml).
- Thể Tâm - Thận bất giao (Thận âm hư): Thận thủy suy kém, tâm hỏa vượng
* Triệu chứng: Nhức đầu, mất ngủ, táo bón, tiểu đỏ, đau lưng, di tinh, chót lưỡi đỏ, mạch trầm.
* Phương cách điều trị: Hư âm giáng hỏa - an thần - cố tinh
* Bài thuốc:
Đậu đen - 40gr;
Rễ đinh lăng - 20gr
Cây mắc cỡ (còn có tên là trinh nữ, cỏ thẹn) 20gr - lưu ý: chỉ dùng cây tím, thân suông - không dùng cây trắng, thân có gai;
Dây tơ hồng xanh - 20gr;
Mẫu lệ (vỏ con hàu, con hà) nung, giã nát - 12gr
Tất cả nấu với 4 chén nước (800ml) sắc còn 1 chén rưỡi. Uống lúc đói, ngày 3 lần, mỗi lần nửa chén (100ml).
- Thể Thận âm dương lưỡng hư
* Triệu chứng: Nhức đầu, mất ngủ, táo bón, tiểu đỏ, đau lưng, di tinh, chót lưỡi đỏ, mạch trầm. Đặc biệt có thêm triệu chứng điển hình của thể này là sợ lạnh, một số trường hợp có thể có liệt dương, hoạt tinh.
* Phương cách điều trị: Bổ thận - cố tinh, an thần: ngãi diệp (thuốc cứu) 20, gừng khô 12.
* Bài thuốc:
Đậu đen - 40gr;
Rễ đinh lăng - 20gr
Cây mắc cỡ (còn có tên là trinh nữ, cỏ thẹn) 20gr - lưu ý: chỉ dùng cây tím, thân suông - không dùng cây trắng, thân có gai;
Ngãi diệp (còn gọi là thuốc cứu) - 20gr;
Gừng khô - 12gr
Tất cả nấu với 4 chén nước (800ml) sắc còn 1 chén rưỡi. Uống lúc đói, ngày 3 lần, mỗi lần nửa chén (100ml).

- Thể Tâm tỳ hư - Thiếu máu
* Triệu chứng: Người luôn mệt mỏi, vẻ mặt kém tươi; ăn không ngon, mạch yếu, hay quên, hồi hộp... thường là hậu quả của stress
* Phương cách điều trị:: Bổ tâm tỳ
* Bài thuốc:
Hạt sen sao vàng - 40gr;
Đậu váng trắng - 20gr;
Lá dâu non - phơi mát (còn gọi là phơi âm can) - 20gr;
Lá vông - phơi mát - 20gr;
Cây mắc cỡ (còn có tên là trinh nữ, cỏ thẹn) 20gr - lưu ý: chỉ dùng cây tím, thân suông - không dùng cây trắng, thân có gai;
Tất cả nấu với 4 chén nước (800ml) sắc còn 1 chén rưỡi. Uống lúc đói, ngày 3 lần, mỗi lần nửa chén (100ml).
- Thể Vị không điều hòa - Bệnh đường dạ dày
Triệu chứng: Mất ngủ, giấc ngủ ngắn không sâu, khi ngủ dậy đau đầu, hay ngáp vặt. Đặc biệt có kèm nhiều triệu chứng của bệnh đau dạ dày như ăn không tiêu, no hơi, trào ngược, đánh răng buồn nôn, ợ hơi, thượng vị khó chịu, rêu lưỡi nhớt...
* Phương cách điều trị:: Tiêu tích trệ - hóa đàm:
* Bài thuốc
Vỏ quýt - sao thơm - 20gr;
Hương phụ (cỏ gấu) - sao cháy lông - 40gr;
Thủy xương bồ - cạo vỏ ngoài phơi khô - 10gr;
Sả - thái nhỏ, sao vàng - 20gr;
Gừng khô - 20gr
Tất cả tán bột mịn, dùng 3 lần, mỗi lần 1 muỗng cafe trước hoặc sau khi ăn. giúp ngủ ngon, không đau đầu, ợ hơi.

Thủy xương bồ
Minh Hiền
Lần cập nhật cuối ( Chủ nhật, 07 Tháng 8 2022 12:57 )
 

Những câu hỏi thường gặp về đông y

Email In PDF.
'Đông y' là thuật ngữ được sử dụng song song với 'Y học cổ truyền', dùng chỉ nền y học có nguồn gốc Trung Quốc và Việt Nam xưa, để phân biệt với tây y.

1- Có phải điều trị bệnh theo đông y cần thời gian dài hơn?
Bên cạnh lợi thế trong hỗ trợ điều trị các bệnh mãn tính như tiểu đường, ung thư, đông y còn có thể điều trị tốt một vài trường hợp bệnh cấp tính, ví dụ như trường hợp hôn mê ở các bệnh nhân bị đột quỵ có thể điều trị khỏi bằng châm cứu hoặc bằng một loại thuốc được làm từ sỏi mật của của một loài bò (ngưu hoàng)… Cũng như tây y, liệu trình điều trị của đông y vẫn phụ thuộc vào tình trạng của từng cá thể, bệnh mãn tính thì cần nhiều thời gian để điều trị, còn đối với bệnh cấp tính hay bệnh nhiễm trùng, bệnh nhân có thể hồi phục trong thời gian ngắn.
2- Có phải thuốc đông y luôn luôn có vị đắng?
Không phải như vậy, nói một cách đơn giản là tính vị của thuốc đông y thường chia thành 5 loại gọi là "ngũ vị" bao gồm vị cay, vị ngọt, vị chua, vị đắng và vị mặn. Vị của thuốc và hiệu năng của thuốc có mối liên hệ chặt chẽ với nhau:
- Vị cay: Có tác dụng phát tán, hành khí hoạt huyết (như xuyên khung);
- Vị ngọt: Có tác dụng bổ ích, hoãn cấp (như cam thảo);
- Vị chua: Có tác dụng thu liễm, cố sáp (như ngũ vị tử);
- Vị đắng: Có tác dụng thanh nhiệt, giáng tiết (như hoàng liên);
- Vị mặn: Có tác dụng nhuyễn kiên, tán kết, tả hạ (như mang tiêu);
Một số người sau khi tẩm bổ bằng thuốc đông y lại xuất hiện một số triệu chứng bất lợi, ví dụ như chảy máu mũi, trường hợp này có thể cho là khi cơ thể hư yếu thì không thể tẩm bổ có phải không?
Nguyên tắc trị bệnh của đông y là "hư thì bổ, thực thì tả". Bất luận là điều trị bệnh hay là tẩm bổ thường ngày, đều phải chú ý là hư chứng (hư nhược, suy yếu) thì mới dùng phương pháp tẩm bổ, thực chứng (dư thừa, ứ đọng) thì không nên tẩm bổ.
Căn cứ vào tổn thương của âm, dương, khí, huyết, mà thuốc bổ đông y có thể chia thành 4 loại tác dụng: Ích khí, bổ huyết, tư âm, bổ dương. Nếu sử dụng phép bổ không phù hợp thì sẽ xuất hiện cái gọi là "hư bất thụ bổ". Nghĩa là cơ thể hư suy vẫn không thể hấp thụ được chất bổ.
Ví dụ như một trường hợp bệnh nhân âm hư hỏa vượng, với chứng trạng miệng khô lưỡi táo, hoa mắt chóng mặt, lòng bàn tay, lòng bàn chân và vùng giữa ngực nóng, thì phải dùng thuốc có tính vị cam hàn (ngọt, lạnh) để tư âm thanh nhiệt, trường hợp này nếu như dùng thuốc bổ có tính tân ôn (cay, nóng) và trợ dương, sẽ càng giúp cho hỏa làm tổn thương âm tất sẽ dẫn đến triệu chứng càng nặng hơn, đó là xuất hiện hiện tượng "hư hỏa" bốc lên trên, làm cho chảy máu mũi là vậy.
3- Trạng thái "sức khỏe dưới mức bình thường" là gì?
Sức khỏe dưới mức bình thường nghĩa là sức khỏe cơ thể không được tốt, nhưng chưa biểu hiện đầy đủ các tính chất để được gọi là một bệnh. Ví dụ một người thường xuyên than phiền nhức đầu, chóng mặt hay yếu sức, nhưng khi khám kiểm tra sức khỏe thì không phát hiện bất thường nào. Tuy nhiên theo quan điểm của đông y thì rõ ràng cơ thể đã biểu hiện một trạng thái mất cân bằng về âm dương, khí huyết và tạng phủ.
So sánh với một người khỏe mạnh, thì người có sức khỏe kém dễ dàng mắc các bệnh về tâm sinh lý hơn. Vì thế đông y rất coi trọng việc dự phòng và loại trừ tình trạng sức khỏe không tốt. Muốn phòng trị tình trạng "sức khỏe dưới mức bình thường", ngoài việc cần chú trọng đến sức khỏe về thể chất, tinh thần, ăn uống điều độ, chế độ làm việc, nghỉ ngơi, vận động rèn luyện hợp lý, thì nên phát hiện và điều trị sớm những rối loạn mất cân bằng của cơ thể.
Theo đông y "sức khỏe dưới mức bình thường" được phân chia thành các loại hình như sau:
- Thể can uất khí trệ;
- Thể đàm thấp nội sinh;
- Thể tâm tỳ lưỡng hư;
- Thể can thận âm hư;
- Thể phế vị khí hư;
- Thể tỳ thận dương hư,...
Nếu bạn muốn biết tình trạng sức khỏe của mình bị rối loạn như thế nào, hãy đến thầy thuốc đông y để thăm khám và được tư vấn.
4- Châm cứu là gì?

Châm và cứu là hai phương pháp điều trị khác nhau.
Châm là dùng kim bằng kim loại châm vào các điểm được xác định trên da, và thực hiện các thủ pháp kích thích, xoay kim theo các phương pháp bổ tả khác nhau.
Cứu pháp chủ yếu là dùng hơi nóng (và khí thuốc) của điếu ngải hoặc mồi ngải (chất liệu làm từ lá cây ngải cứu) được đốt cháy để tác động lên các điểm được xác định trên da để làm ấm và thông khí huyết.
Những điểm trên da này gọi là huyệt vị châm cứu. Việc chọn huyệt và vị trí để châm cứu tùy thuộc vào các loại bệnh khác nhau, phương pháp châm và phương pháp cứu đều thông qua kích thích lên các huyệt vị nhất định trên cơ thể để có tác dụng sơ thông kinh lạc, điều tiết tạng phủ, hành khí hoạt huyết… từ đó đạt đến sự lập lại cân bằng cho cơ thể, nâng cao sức đề kháng và tiêu trừ bệnh tật.
Phương pháp châm và cứu đều có bổ và tả, phương pháp cứu có sở trường về làm ấm, bồi bổ cơ thể và thông huyết mạch. Phương pháp châm có hiệu quả tương đối nhanh, phương pháp cứu có hiệu quả chậm nhưng lâu dài, hai phương pháp này thường được phối hợp sử dụng để tăng cường hiệu quả điều trị. Đối với một số huyệt vị cấm dùng phương pháp châm ví dụ như huyệt thần khuyết (lỗ rốn) hoặc một số huyệt hạn chế châm thì có thể dùng phương pháp cứu để thay thế.
5- Có thể lý giải về độc tính và phản ứng phụ của thuốc đông y như thế nào?
Phần lớn mọi người đều cho rằng dược tính của thuốc đông y thường bình hòa không có độc tính và không có tác dụng phụ khi dùng kéo dài. Điều này hoàn toàn sai lầm! Bất cứ một loại dược vật nào mà chúng ta sử dụng không hợp lý đều có thể gây độc và có phản ứng phụ cả. Ví dụ như nhân sâm là một loại thuốc đại bổ nguyên khí, nếu sử dụng trong trường hợp một người đang sốt cao, miệng đắng, da lở loét, đại tiện táo bón… thì sẽ có thể làm bệnh trầm trọng hơn. Vì vậy trước khi sử dụng loại thuốc đông y nào đều phải có ý kiến của thầy thuốc đông y.
Gần đây một số báo cáo trên thế giới cho thấy hàm lượng acid Arisolochic có trong Quan Mộc thông (Caulis Aristolochiae Manshuriensis) có thể gây suy thận. Nên biết rằng loại thường được dùng để kê đơn là Xuyên Mộc thông (Caulis Clematidis Armandii), đây là 2 loài khác nhau. Ngoài ra, đông y còn sử dụng một số thuốc có độc tính trong điều trị một số trường hợp, ví dụ như Phụ Tử (Radix Aconiti Lateralis Preparata) và Xuyên Ô (Radix Aconiti) được dùng trong điều trị thấp khớp, những thuốc này đều có sự theo dõi chặt chẽ về liều lượng, cách thức bào chế để tránh các tác dụng có hại. Vì thế việc giám sát chặt chẽ chất lượng thuốc đông y là rất quan trọng.
6- Có phải thầy thuốc đông y chỉ dùng phương pháp "bắt mạch" để chẩn đoán các loại bệnh?
Bắt mạch đóng một vai trò quan trọng trong chẩn đoán bệnh. Tuy nhiên nếu chỉ dựa vào bắt mạch thì chúng ta chỉ biết được một phần của tình trạng bệnh lý, giúp cho ta có định hướng trong chẩn đoán mà thôi. Ví dụ trường hợp phụ nữ có thai thì có "mạch hoạt", tuy nhiên "mạch hoạt" cũng thường gặp ở bệnh nhân có trường vị bị đàm thấp…
Do đó để có một chẩn đoán chính xác, cần thiết phải kết hợp 4 phương pháp khám bệnh, mà đông y gọi là "Tứ chẩn" đó là:
- Vọng: Nghĩa là thầy thuốc sẽ quan sát thần, sắc, hình thái, mắt, mũi, môi, lưỡi… của bệnh nhân để biết được tình hình bệnh tật bên trong cơ thể biểu hiện ra bên ngoài như thế nào;
- Văn: Nghĩa là nghe và ngửi, thầy thuốc sẽ nghe tiếng nói, tiếng thở, tiếng ho, tiếng nấc… chú ý đến mùi của hơi thở, mũi, miệng, các chất thải như đờm, phân, nước tiểu để có thể phân biệt được tình trạng của bệnh;
- Vấn: Hỏi bệnh nhân về bệnh sử, các triệu chứng của bệnh, chú trọng đến hỏi về mồ hôi, hàn, nhiệt…
- Thiết: Bao gồm bắt mạch và sờ nắn để biết vị trí và tính chất của bệnh, thường xem ở da thịt, tay chân, ngực và bụng…
Như vậy, thầy thuốc đông y cũng cần phải tổng hợp đầy đủ các dấu chứng, triệu chứng toàn thân rồi mới đưa ra kết quả chẩn đoán.
7- Tại sao thầy thuốc đông y có thể sử dùng nhiều loại đơn thuốc khác nhau để điều trị một loại bệnh?
Thứ nhất, biện luận điều trị của đông y nhắm vào yếu tố cơ địa của từng cá nhân, vì vậy việc lựa chọn loại thuốc cũng như liều lượng trong đơn thuốc có thể tăng hoặc giảm là tùy theo từng cá nhân.
Thứ hai, theo quan điểm của đông y, những gì chúng ta gọi là bệnh là đại diện cho toàn bộ quá trình của biến đổi bệnh lý, trong khi một hội chứng sẽ phản ánh bệnh lý của bệnh đó ở giai đoạn nhất định. Trong đông y, hội chứng bao gồm các dấu hiệu và triệu chứng mất cân bằng theo tiêu chuẩn chẩn đoán của đông y, thường được gọi là thể bệnh. Thầy thuốc đông y sẽ điều trị theo một hội chứng (thể bệnh) của bệnh đó thay vì điều trị bệnh.
Ví dụ, bệnh cảm mạo, theo đông y gồm có các hội chứng (thể bệnh): thể phong hàn, thể phong nhiệt hoặc thể cảm mạo do cơ thể suy yếu, phương án điều trị tương ứng với mỗi thể bệnh sẽ khác nhau. Cụ thể: thể phong hàn thì dùng phương án khứ phong tán hàn, thể phong nhiệt thì dùng phương án khứ phong thanh nhiệt, thể cảm mạo do hư suy thì dùng phương án phù chính khứ tà, tăng cường ích khí cố biểu trị liệu. Vì vậy các đơn thuốc cũng sẽ khác nhau để điều trị "bệnh cảm mạo" này.
8- Các loại thảo dược được cho là có 4 tính: Lạnh, mát, ấm, và nóng. Vậy thực phẩm trong chế độ ăn uống hàng ngày có 4 tính chất như thế không?
Thuốc và thực phẩm đều có nguồn gốc giống nhau và cả hai đều có thể được sử dụng như thuốc. Trên thực tế, hầu hết các loại thực phẩm có tính bình. Tuy nhiên một số thực phẩm cũng có thể được phân loại thành hàn, lương, ôn, và nhiệt.
- Thực phẩm có tính hàn bao gồm măng, chuối, mướp đắng, ngao, cua, bưởi, tảo bẹ, rau diếp, dưa, thơm, hồng, muối, rong biển, khế, mía, hạt dẻ nước, dưa hấu và củ sen,…
- Thực phẩm có tính nhiệt bao gồm hạt tiêu, ớt, quế, hạt bông, gừng và hẹ,…
Điều quan trọng là nên biết về các tính của thực phẩm bởi vì thực phẩm với tính năng khác nhau sẽ tác động lên cơ thể con người theo những cách khác nhau và ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe. Nếu một người bị bệnh thấp khớp thể hàn, thường đau khớp, đặc biệt đau tăng vào mùa đông thời tiết lạnh, thì nên ăn thực phẩm có tính ôn hoặc nhiệt sẽ làm giảm đau đáng kể. Hoặc nếu một người thường bị phát ban làm cho da xấu đi khi tiếp xúc với nhiệt, thì nên ăn loại thực phẩm có tính mát và lạnh để làm giảm triệu chứng.
9- Đông y sử dụng các loại thảo mộc để điều trị bệnh nhưng không phải trên cơ sở của các thành phần hóa học của chúng. Vậy thì, dựa vào những nguyên tắc gì để điều trị bệnh trong đông y?
Đây là sự khác biệt lớn giữa y học phương Tây và y học phương Đông. Nói chung, phương pháp điều trị của đông y tập trung vào tình trạng tổng thể của cơ thể, chứ không phải là xác định tác nhân gây bệnh cụ thể gây ra tình trạng đó.
Dựa vào những nguyên tắc chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, thầy thuốc sẽ khám và quy nạp tất cả các tính chất, vị trí, sự thay đổi bệnh lý, cũng như quá trình của bệnh vào tám cương lĩnh (bát cương) đó là: âm, dương, biểu (bên ngoài), lý (bên trong), hàn, nhiệt, hư (thiếu hụt, suy yếu) và thực (dư thừa, ứ trệ). Sau đó, họ dựa vào một số thuộc tính của thảo dược để soạn thảo các đơn thuốc thích hợp. Thuộc tính của mỗi loại thảo dược dựa vào: Tính, vị, thăng, giáng, phù, trầm, quy kinh.
Tính (tứ khí): Lạnh, nóng, ấm, và mát;
Vị: Cay, ngọt, chua, đắng, mặn;
Tính chất di chuyển: Thăng (đi lên), giáng (đi xuống), phù (nổi, đi ra ngoài), trầm (chìm, đi vào trong);
Quy kinh: Khả năng đi vào một kinh mạch nhất định (đích tác dụng).
Thầy thuốc sử dụng các thuộc tính của các loại thảo mộc để kích thích sự tự phục hồi năng lượng của cơ thể, và làm cho cơ thể trở lại trạng thái cân bằng. Tính chất chữa bệnh của các thuốc được xác định qua nhiều năm tích lũy kinh nghiệm.
Dựa vào thuộc tính của các loại thảo dược để chống lại thuộc tính đối lập của bệnh, và thực hiện những thay đổi cơ thể đến một sự cân bằng mới. Ví dụ, các loại thảo mộc có thể điều trị hoặc loại bỏ nhiệt hoặc hội chứng nhiệt, chủ yếu có tính chất lạnh hoặc mát, chẳng hạn như hoàng cầm hoặc bản lam căn. Các loại thảo mộc có thể điều trị hoặc loại bỏ hội chứng hàn, chủ yếu có tính chất ấm hoặc nóng, chẳng hạn như phụ tử và gừng khô.
Trong sách Thần Nông bản thảo (sách cổ điển nói về dược thảo) cho rằng: "Trị hàn dùng thuốc nhiệt, trị nhiệt dùng thuốc hàn". Sách Nội kinh-Tố vấn cũng nói: "Hàn thì dùng nhiệt, nhiệt thì dùng hàn". Đây là những nguyên tắc cơ bản trong việc quy định sử dụng thuốc để điều trị trong đông y.
Người ta cho rằng các loại thuốc đông y không có tác dụng phụ và sử dụng chúng trong một thời gian dài sẽ không gây tổn hại cho sức khỏe. Và ngay cả khi dùng thuốc không phù hợp với các triệu chứng, nó cũng không làm hại nhiều. Điều này có đúng không ?
Trong điều trị bệnh, thuốc đông y có khả năng khôi phục lại sự cân bằng âm dương của cơ thể thông qua thuộc tính khác nhau của nó. Tất cả các loại thuốc đều có thuộc tính riêng và có một mức độ độc tính nhất định. Sử dụng không đúng sẽ gây tác dụng phụ cho cơ thể và làm rối loạn cân bằng âm dương.
10- Có phải thuốc đông y luôn là thuốc sắc ở dạng lỏng và có vị đắng hay không?
Thuốc đông y thường được sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau, tùy thuộc vào cách chế biến. Các hình thức phổ biến nhất là: Thuốc thang (sắc ở dạng lỏng), cao, đơn (viên tròn nhỏ), hoàn (viên tròn), tán (dạng bột), dạng xi-rô, dạng cốm, rượu, viên dẹt… Trong ứng dụng lâm sàng, các hình thức thích hợp sẽ được quy định theo tính chất của bệnh./.
Nguồn: Cổng thông tin Y học Cộng đồng
Lần cập nhật cuối ( Chủ nhật, 07 Tháng 8 2022 12:57 )
 
Trang 1 trong tổng số 1239 trang.
Bạn đang ở: Trang chủ Trao đổi